Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 691/2024/DS-ST

Ngày: 14-8-2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Bá Bằng
  2. Bà Trần Thị Mai Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thục Đoan, thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thu - Kiểm Sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 198/2024/DSST ngày 20 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 300/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 285/2024/QĐST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín;

Địa chỉ trụ sở: Số 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh.

Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Trần Đức Thắng, sinh năm 1984; (có đơn xin vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Lê Thế Dũng – sinh năm: 1974;

Địa chỉ: Số 123/30A, đường Lê Lợi, Phường 03, quận Gò Vấp, Tp.HCM.

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 28/2/2024, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) có ông Trần Đức Thắng là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 17/01/2011, ông Lê Thế Dũng ký với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản Điều khoản và Điều kiện Phát hành và Sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ theo thu nhập và đề nghị của ông Dũng, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông Lê Thế Dũng với hạn mức sử dụng thẻ là 20.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2.15%/ tháng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Lê Thế Dũng đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 76.427.895 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ từ ngày kích hoạt, ông Lê Thế Dũng đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 85.434.900 đồng. Sau đó, ông Dũng không thanh toán đầy đủ tiền nợ cho Ngân hàng theo thông báo giao dịch hàng tháng. Do ông Dũng vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngày 26/10/2018 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ tín dụng của ông Dũng và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 14/8/2024, ông Dũng còn nợ số tiền là: Nợ gốc: 19.657.664 đồng; lãi quá hạn: 44.799.840 đồng; Tổng cộng là: 64.457.504 đồng.

Nay Ngân hàng yêu cầu ông Dũng trả một lần toàn bộ số nợ trên và tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 15/8/2024 theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ. Ngoài ra Ngân hàng không còn ý kiến, yêu cầu gì khác.

Ông Lê Thế Dũng đã được được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án để triệu tập ông đến Tòa để ghi nhận ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nhưng ông Dũng không đến Tòa, không cung cấp chứng cứ và không có ý kiến phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Như vậy, ông Dũng tự từ bỏ quyền được pháp luật bảo vệ. Ông Dũng đã được Tòa án triệu tập lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt, nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Người đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng có đơn xin vắng mặt và gửi bản tự khai vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Ông Dũng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và các đương sự:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xác định thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách tố tụng, thu thập chứng cứ; thực hiện việc gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín và ông Lê Thế Dũng đã ký với nhau hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Do ông Dũng vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện. Đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có nơi cư trú tại quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh. Căn Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh.

- Về người tham gia tố tụng:

Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Dũng. Tuy nhiên ông Dũng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2. Như vậy, việc bị đơn vắng mặt được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Dũng.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng:

2.1. Về yêu cầu ông Dũng thanh toán số tiền còn nợ thẻ tín dụng.

Căn cứ vào hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng) ngày 17/01/2011 được ký giữa ông Lê Thế Dũng với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín; cho thấy việc giao kết hợp đồng tín dụng giữa các bên là có thật, nội dung mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với các quy định của pháp luật tại các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Căn cứ hợp đồng tín dụng và các bản sao kê mà Ngân hàng cung cấp thể hiện ông Dũng có thực hiện giao dịch với Ngân hàng. Tính đến ngày 14/8/2024 ông Dũng còn nợ số tiền cụ thể như sau: Nợ gốc: 19.657.664 đồng; lãi quá hạn: 44.799.840 đồng; Tổng cộng là: 64.457.504 đồng. Do ông Dũng không thanh toán đúng hạn số tiền qua các lần giao dịch nên phát sinh lãi suất, các loại phí theo thỏa thuận trong hợp đồng. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở ông Dũng thanh toán số tiền còn nợ nhưng ông Dũng vẫn không thực hiện. Do ông Dũng vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên ngày 26/10/2018, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn. Như vậy, ông Dũng đã vi phạm về thời hạn thanh toán, theo như thỏa thuận trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, nên Ngân hàng yêu cầu ông Dũng trả số tiền còn nợ là có căn cứ.

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của Ngân hàng. Xét thời điểm giao kết và thực hiện hợp đồng, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Trường hợp có quy định khác nhau giữa luật này và các luật khác có liên quan về thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng; việc thành lập, tổ chức, hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng thì áp dụng theo quy định của Luật này”, theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do vậy, đối với hợp đồng vay mà một bên là tổ chức tín dụng thì lãi suất của hợp đồng vay được thực hiện theo thỏa thuận.

Hội đồng xét xử xét thấy, lãi suất và phí của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 17/01/2011 mà các bên đã ký kết phù hợp với quy định của pháp luật. Do ông Dũng vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định trong hợp đồng, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng nên yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có căn cứ chấp nhận. Vì các lẽ trên, ông Dũng phải thanh toán 01 lần cho Ngân hàng tổng số tiền nợ tính đến ngày 14/8/2024 là 64.457.504 đồng (trong đó nợ gốc là 19.657.664 đồng; lãi quá hạn: 44.799.840 đồng); kể từ ngày 15/8/2024, ông Lê Thế Dũng tiếp tục trả lãi phát sinh trên nợ gốc còn nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận. Ngân hàng không phải chịu án phí và được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp; Ông Dũng phải chịu án phí là 3.222.875 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 228, Điều 266 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 357, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.

    Buộc ông Lê Thế Dũng phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín số tiền tạm tính đến ngày 14/8/2024 là 64.457.504 đồng (trong đó nợ gốc là: 19.657.664 đồng; lãi quá hạn là: 44.799.840 đồng).

    Kể từ ngày 15/8/2024, ông Lê Thế Dũng tiếp tục trả lãi phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ.

    Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm.

    Ông Lê Thế Dũng phải chịu số tiền án phí là 3.222.875 đồng (Bằng chữ: ba triệu hai trăm hai mươi hai ngàn tám trăm bảy mươi lăm đồng).

    Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.486.230 đồng (Bằng chữ: Một triệu bốn trăm tám mươi sáu ngày hai trăm ba mươi đồng) đồng theo biên lai thu số 0012777 ngày 18/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh.

  3. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  4. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông Lê Thế Dũng có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND Q. Gò Vấp;
  • - Chi cục THADS Q. Gò Vấp;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Huy Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 691/2024/DS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 691/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng S yêu cầu ông D thực hiện nghĩa vụ thanh toán
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger