|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 691/2024/DS-PT Ngày: 28/11/2024 V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.
Các Thẩm phán: 1. Bà Nguyễn Thị Lan Anh;
2. Ông Lê Thanh Bình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Đức - Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thu Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 50/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 02 năm 2024, về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án sơ thẩm số 129/2023/DSST ngày 24/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 432/2024/QĐ-PT ngày 30/9/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 567/2024/QĐHPT-PT ngày 28/10/2024; Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 485/2024/TB - DS ngày 05/11/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn:
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1958; đăng ký HKTT: B, phường N, quận L, Thành phố Hà Nội; trú tại: số C ngõ C đường N, phường N, quận L, Thành phố Hà Nội.
- Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1973; trú tại: Số A ngõ A N, phường N, quận L, Thành phố Hà Nội.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T, bà D: Luật sư Ngô Thế T1 - Công ty L3 - Đoàn luật sư Thành phố H.
2/ Bị đơn:
Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1978; trú tại: Số A ngõ A B, tổ C phường N, quận L, Thành phố Hà Nội.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông H: Luật sư Nguyễn Thị Kim T2, Nguyễn Đức B - Văn phòng L4 - Đoàn luật sư thành phố H.
3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị H1, sinh năm 1970; trú tại: P nhà A Đ, phường V, quận B, Thành phố Hà Nội.
- Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1963, trú tại: Số F ngõ A tổ dân phố C phường N, quận L, Thành phố Hà Nội.
- Bà Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh năm 1970; trú tại: Số E hẻm B T, phường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
- Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1952; trú tại: Số D tổ C B, phường N, quận L, Thành phố Hà Nội.
- Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1969;
- Bà Nguyễn Phương Q1, sinh năm 1978; (vợ ông T3);
- Bà Tạ Thị T4, sinh năm 1987;
- Cháu Tạ Thanh P, sinh năm 2017; Người đại diện theo pháp luật của cháu P: Bà Tạ Thị T4.
- Bà Trần Thị H3, sinh năm 1980; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H;
- Cháu Nguyễn Hoàng Hà P1, sinh năm 2009;
- Cháu Nguyễn Hoàng D1, sinh năm 2016;
- Ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1980;
- Bà Đào Thanh H4, sinh năm 1979;
- Cháu Nguyễn Quang L, sinh năm 2012;
- Cháu Nguyễn Quang H5, sinh năm 2014;
- Ông Hoàng Bá T6, sinh năm 1953;
- Bà Phạm Thị Thanh T7, sinh năm 1958;
- Ông Hoàng Anh T8, sinh năm 1982;
- Bà Nguyễn Thị Thu H6, sinh năm 1986 (vợ ông T8).
- Cháu Hoàng Quế C, sinh năm 2014 (con ông T8, bà H6);
- Cháu Hoàng Quế A, sinh năm 2016 (con ông T8, bà H6);
- Cháu Hoàng Thanh T9, sinh năm 2020 (con ông T8, bà H6);
- Ông Hoàng Minh T10, sinh năm 1984;
- Bà Vũ Thị M, sinh năm 1990 (vợ ông T10);
- Cháu Hoàng Gia V, sinh năm 2014;
- Cháu Hoàng P2, sinh năm 2017;
- Ủy ban nhân dân phường N, quận L, Thành phố Hà Nội; Trụ sở: Số B đường N, phường N, quận L, Thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Văn L1 - Chủ tịch UBND phường; Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Hoàng Minh C1 - Công chức địa chính, UBND phường N.
Cùng trú tại: Số A ngõ A tổ C phố B, phường N, quận L, Thành phố Hà Nội.
Cùng trú tại: Ngõ A tổ C phố B, phường N, quận L, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật của cháu P1, cháu D1: Ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị H3.
Cùng trú tại: Số A ngõ A B, tổ C phường N, quận L, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T5, bà H4: Ông Nguyễn Văn H.
Cùng trú tại: Số A ngõ A phố B, phường N, quận L, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật của cháu L, cháu H5: Ông Nguyễn Văn T5, bà Đào Thanh H4.
Cùng trú tại: Số A ngõ A phố B, phường N, quận L, Thành phố Hà Nội,
Người đại diện theo pháp luật của cháu Hoàng Gia V, Hoàng Phương A1: Ông Hoàng Minh T10, bà Vũ Thị M; Người đại diện theo pháp luật của cháu Quế C, Quế A, T: Ông Hoàng Anh T8, bà Nguyễn Thị Thu H6.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị Thanh T7, ông Hoàng Tuấn A2, bà Nguyễn Thị Thu H6, ông Nguyễn Văn T5, bà Đào Thanh H4, bà Trần Thị H3, ông Hoàng Minh T10, bà Vũ Thị M: Ông Nguyễn Văn H (theo Giấy ủy quyền ngày 25/10/2024 tại Văn phòng C2).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án như sau:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/10/2021, đơn sửa đổi, bổ sung ngày 20/1/2022 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn - bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị D thống nhất trình bày:
Bố mẹ của các bà là cụ Nguyễn Văn H7, sinh năm 1931 và cụ Hoàng Thị N1, sinh năm 1932, trú tại: B, phường N, quận L, Hà Nội. Bố mẹ các bà có quyền sử dụng đất thửa đất số 71+72+73, tờ bản đồ số 50 diện tích 761m² được UBND quận L, Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây gọi tắt là GCNQSDĐ) số AD 471008, MS 10127370523, số GCN 1388/2005/QĐ-UB/993/2005 ngày 21/9/2005. Nguồn gốc các thửa đất trên là do Hợp tác xã nông nghiệp cấp năm 1971, đã sử dụng ổn định và không có tranh chấp, có ranh giới và lối đi rõ ràng. Năm 2012, cụ H7, cụ N1 đã tiến hành chia đất cho các con và chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất còn lại cho người khác. Sau đó, những người con của cụ H7, cụ N1 lại chuyển nhượng quyền sử dụng được bố mẹ chia cho người khác. Đến thời điểm hiện nay các chủ sử dụng các thửa đất có sử dụng lối đi tranh chấp như sau: Thửa đất số 71+72(1)+73-2 diện tích 98,3m² trong đó sử dụng riêng 50,0m², sử dụng chung 48,3m²; Thửa đất số 71+72(1)+73-3 diện tích 98,3m², trong đó sử dụng riêng 50,0m², sử dụng chung 48,3m² đứng tên bà Nguyễn Thị D; Thửa đất 71+72(1)+73-4 đứng tên bà Nguyễn Thị T diện tích 88,3m² trong đó sử dụng riêng 40m², sử dụng chung 48,3m². Các thửa đất còn lại đứng tên các người con của cụ H7, cụ Nghĩa là ông Nguyễn Văn T3 và vợ là bà Nguyễn Phương Q1, bà Nguyễn Thị H2, ông Nguyễn Văn Q và người nhận chuyển nhượng lại là bà Nguyễn Thị Quỳnh N, bà Phạm Thị H1. Toàn bộ diện tích các thửa đất nêu trên đã được Nhà nước tiến hành thẩm định là đủ điều kiện tách thửa và gia đình các bà đã để lại diện tích 48,3m² trong thửa đất làm lối đi chung đi ra lối đi công hiện đang tranh chấp.
Hiện trạng phần lối đi chung tranh chấp được giới hạn nằm ở giữa thửa đất nhà các bị đơn là ông T5, ông H và các thửa đất hiện những người con của cụ H7, cụ N1 và những người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ cụ H7, cụ N1 và từ các con của cụ H7, cụ N1 tại địa chỉ ngõ A, tổ C Phường N, L, Hà Nội là đường giao thông thôn xóm tồn tại từ những năm 1970 đến nay. Gia đình các bà và gia đình bà Hoàng Thị K (mẹ của bị đơn đã mất), gia đình ông Hoàng Bá T6 vẫn sử dụng chung ổn định diện tích lối đi chung này. Trong quá trình sử dụng gia đình các bà cũng như một số gia đình có cải tạo và sau đó được UBND phường N nhiều lần tu bổ đổ bê tông xã hội hóa, lắp đặt hệ thống chiếu sáng đô thị và trên bản đồ địa chính lưu tại UBND phường N thể hiện rõ là lối đi chung có nguồn gốc là lối đi công có diện tích 46m² và không nằm trong phần diện tích đất gia đình ông H, ông T5 được cấp GCNQSDĐ. Trên diện tích lối đi chung này ông H, ông T5 đã xây 01 bức tường có chiều dầy 0,1m, cao 1,18m, diện tích 19,2m², xây áp sát bức tưởng dày 0,2m, cao 3,11m, diện tích 50,7m² do bố mẹ các bà xây trên phần đất thuộc quyền sở hữu, sử dụng của gia đình, không nằm trên diện tích lối đi chung và 01 cổng sắt rộng 2,2m, diện tích 4,8m².
Quá trình quản lý, sử dụng đất gia đình các bà có cho ông H8, bà X thuê đất để làm nhà xưởng. Năm 2012, ông H8, bà X không thuê nữa, sau khi nhận lại mặt bằng thuê các bà tháo dỡ một phần bức tường mà ông H8, bà X đã xây dựng thêm trên phần bức tường ban đầu mà bố các bà đã xây để mở ra lối đi chung cho các thửa đất vào tháng 5/2012. Ngày 7/7/2012, gia đình ông Nguyễn Văn H làm cổng sắt và xây dựng thêm bức tường khóa lối đi của gia đình các bà và các hộ phía trong. Gia đình các bà đã sang nhà ông H có ý kiến nhưng ông H không đồng ý dỡ bỏ cổng sắt này, mặc dù cổng sắt chỉ làm tạm nhưng đã vi phạm trật tự xây dựng và cản trở lối đi của gia đình các bà.
Quá trình giải quyết tranh chấp lối đi chung tại UBND phường N, L, Hà Nội như sau: Ngày 18/4/2013 gia đình các bà có “Đơn đề nghị” gửi UBND phường N yêu cầu quyết tranh chấp. Tại các buổi hòa giải ở trụ sở UBND phường N, đại diện tổ dân phố là ông Lê Văn H9 đã có ý kiến xác nhận lối đi tranh chấp là lối đi công cụ thể: Biên bản làm việc ngày 29/5/2013 ông H9 có ý kiến: “Từ năm 1976, gia đình chúng tôi sử dụng chung ngõ với gia đình ông Nguyễn Văn H, ông Hoàng Bá T6. Việc ông Nguyễn Văn H xây dựng cổng là không phù hợp với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp”. Biên bản làm việc ngày 16/7/2013 ông H9 có ý kiến: “Đây là ngõ đi công, hiện các gia đình đều được cấp giấy chứng nhận, đề nghị hai gia đình hoà giải”. Biên bản làm việc ngày 30/10/2013 ông H9 có ý kiến: “Con đường giáp ranh giữa hai nhà trước là con đường nhỏ, nay cải tạo là ngõ đi chung, ngõ công”.
Do đó để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, nguyên đơn đã có đơn khởi kiện gửi Toà án và yêu cầu giải quyết: Xác định lối đi tranh chấp có diện tích 46m² là lối đi chung (có nguồn gốc là lối đi công) và buộc bị đơn ông Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn T5 dỡ bỏ phần tường và cổng sắt xây dựng trên lối đi chung. Ngoài các nội dung yêu cầu trên, các nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nội dung gì khác.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn - ông Nguyễn Văn H trình bày:
Ông không đồng ý với ý kiến của các nguyên đơn lối đi có diện tích 46m² theo Biên bản trích đo thửa đất ngày 26/12/2022 có nguồn gốc nằm trong diện tích thửa đất mà mẹ ông là bà Hoàng Thị K được Hợp tác xã N2 cấp năm 1977; mẹ ông được cấp cùng với thời điểm Hợp tác xã cấp đất cho ông H7 bố của các nguyên đơn. Năm 1987, mẹ ông kê khai và đóng thuế với diện tích 355m². Năm 1989, mẹ ông qua đời. Một cạnh của thửa đất giáp với sông H do sông lúc lở lúc bồi nên diện tích thửa đất có sự thay đổi số đo theo các thời kỳ, cụ thể năm 2002 diện tích đất đóng thuế chỉ còn 300m² do lở đất. Ranh giới giữa thửa đất của nhà ông với thửa đất nhà ông H7 là cố định và không có sự thay đổi.
Vì gia đình ông Hoàng Bá T6 (cậu ruột của ông) ở bên trong không có lối đi ra ngõ công do lối đi của gia đình ông T6 bị lở nên anh em ông thống nhất mở một lối đi có chiều rộng 1,5m giáp bức tường nhà ông H7 (bố của các nguyên đơn) và chạy dài hết đất nhà ông H7 đến giáp với đất nhà ông Hoàng Bá T6. Trên diện tích lối đi anh em ông xây 01 bức tường thấp dày 0,1m cao 1,78m áp sát bức tường nhà ông H7 và dựng 01 cổng sắt rộng 2,2m diện tích 4,8m² giáp lối ra của xóm ngăn cách lối đi của gia đình ông và ngõ đi chung của xóm. Năm 2004, anh em ông họp phân chia nhà ở, đất ở và làm thủ tục kê khai xin cấp GCNQSDĐ của mẹ ông được Hợp tác xã cấp năm 1977 cho hai anh em ông. Năm 2005, UBND quận L đã cấp GCNQSDĐ trong đó: Ông - Nguyễn Văn H là chủ sử dụng thửa đất số 74-1, tờ bản đồ số 50, diện tích 176m² và em trai ông là Nguyễn Văn T5 là thửa đất số 74-2, tờ bản số 50, diện tích 182m² tại địa chỉ tổ C phường N, L, Hà Nội và diện tích lối đi đang tranh chấp được UBND quận L cấp trong GCNQSDĐ; tuy nhiên, không thể hiện tại phần sử dụng chung.
Diện tích thửa đất ông H7, bà N1 được Hợp tác xã cấp nay do những người con của ông H7, bà N1 cùng những người mua đất đang quản lý sử dụng từ trước đến nay vẫn giữ nguyên hiện trạng, không có sự thay đổi gì về hình thể và không lấn chiếm sang phần đất của gia đình ông. Tại biên bản tự phân chia năm 2004, phần diện tích lối đi tranh chấp nằm trong phần diện tích mà anh em ông đã phân chia (Diện tích lối đi 46m² + diện tích hai thửa đất anh em ông đã được cấp GCNQSDĐ bằng 395,5m² là tương xứng với diện tích 394m² trước đây). Anh em không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn vì diện tích lối đi theo hiện trạng 46m² là lối đi chung của gia đình ông có nguồn gốc là đất của mẹ ông để lại; chỉ có gia đình của ông, ông T5 và gia đình ông T6 sử dụng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị H1 trình bày: Bà mua thửa đất số 71+72(1) + 73-9 đứng tên ông Nguyễn Văn T3; ông T3 được bố mẹ là cụ Nguyễn Văn H7 và cụ Hoàng Thị N1 tặng cho, diện tích 88,3m², sử dụng riêng 40,0m², sử dụng chung 48,3m² tại ngõ A tổ C phố B, phường N, quận L, Hà Nội vào năm 2014. Trên sơ đồ thể hiện thửa đất có ngõ đi chung, GCNQSDĐ đã được cơ quan Nhà nước cấp đúng quy định, đảm bảo quyền đi lại cho bà là chủ sở hữu sử dụng hợp pháp quyền sử dụng đất. Bà được biết gia đình nhà bị đơn có những hành vi ngăn cản tranh chấp về việc sử dụng ngõ đi chung của gia đình bà, việc này là trái với quy định bởi đây là đường đi chung không phải là đất của bị đơn bỏ ra làm đường. Hiện trạng cũng như lịch sử tồn tại đường đi này từ nhiều năm trước đây và bức tường được gia đình cụ H7, cụ N1 xây từ lâu và hiện do ông Nguyễn Văn T3 và bà Nguyễn Thị D quản lý. Bà đồng ý với quan điểm khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị Toà án công nhận đây là ngõ đi chung của nguyên đơn và gia đình bà (là ngõ công). Bà xin được vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà xét xử và giữ nguyên mọi ý kiến trình bày tại Toà án cho đến khi Toà án nhân dân quận Long Biên giải quyết xong vụ án.
- Ông Nguyễn Văn Q trình bày: Ngày 25/5/2012, ông được bố mẹ tặng cho thửa đất số 71 + 72(1) + 73-10 diện tích 108,3m², sử dụng riêng 60,0m², sử dụng chung 48,3m² tại ngõ A, tổ C, phố B, phường N, quận L, Hà Nội. Trên sơ đồ thể hiện thửa đất có ngõ đi chung, GCNQSDĐ đã được cơ quan Nhà nước cấp đúng quy định, đảm bảo quyền đi lại cho ông là chủ sở hữu sử dụng hợp pháp quyền sử dụng đất. Ông được biết gia đình bị đơn có những hành vi ngăn cản tranh chấp về việc sử dụng ngõ đi chung của ông và những người con cụ H7 được chia đất và những người mua đất từ gia đình cụ H7, việc này là trái với quy định bởi đây là đường đi chung không phải là đất của bị đơn bỏ ra làm đường. Hiện trạng cũng như lịch sử tồn tại đường đi này từ nhiều năm trước đây và bức tường được gia đình ông xây rất lâu và hiện do ông Nguyễn Văn T3 và bà Nguyễn Thị D quản lý. Ông đồng ý với quan điểm khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị Toà án công nhận đây là ngõ đi công. Ông xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà xét xử và giữ nguyên mọi ý kiến trình bày tại Toà án cho đến khi Toà án nhân dân quận Long Biên giải quyết xong vụ án.
- Bà Nguyễn Thị Quỳnh N trình bày: Năm 2014, bà mua thửa đất số 71 + 72(1) + 73-5 đứng tên ông Nguyễn Văn T3 có diện tích 78,3m² trong đó sử dụng riêng 30,0m², sử dụng chung 48,3m² tại ngõ A tổ C phố B, phường N, quận L, Hà Nội. Trên sơ đồ thể hiện thửa đất có ngõ đi chung, GCNQSDĐ đã được cơ quan Nhà nước cấp đúng quy định, đảm bảo quyền đi lại cho bà là chủ sở hữu sử dụng hợp pháp quyền sử dụng đất. Bà được biết gia đình bị đơn có những hành vi ngăn cản việc sử dụng ngõ đi chung của gia đình bà, ngõ đi chung không phải là đất của bị đơn bỏ ra làm đường. Hiện trạng cũng như lịch sử tồn tại đường đi này từ nhiều năm trước đây và bức tường được gia đình ông T3 xây từ trước và do ông Nguyễn Văn T3 và bà Nguyễn Thị D quản lý. Bà đồng ý với quan điểm khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị Toà án công nhận đây là ngõ công. Bà xin được vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và giữ nguyên mọi ý kiến trình bày cho đến khi Toà án nhân dân quận Long Biên giải quyết xong vụ án.
- Bà Nguyễn Thị H2 trình bày: Ngày 25/5/2012, bà được bố mẹ tặng cho thửa đất số 71 + 72(1) + 73-6 diện tích 78,3m², sử dụng riêng 30,0m², sử dụng chung 48,3m² tại ngõ A tổ C phố B, phường N, quận L, Hà Nội. Trên sơ đồ thể hiện thửa đất có ngõ đi chung, GCNQSDĐ đã được cơ quan Nhà nước cấp đúng quy định, đảm bảo quyền đi lại cho bà là chủ sở hữu sử dụng hợp pháp quyền sử dụng đất. Bà được biết gia đình bị đơn có những hành vi ngăn cản việc sử dụng ngõ đi chung của gia đình bà, ngõ đi chung không phải là đất của bị đơn bỏ ra làm đường. Hiện trạng cũng như lịch sử tồn tại đường đi này từ nhiều năm trước đây và bức tường được gia đình bà xây dựng và quản lý. Bà đồng ý với quan điểm khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị Toà án công nhận đây là ngõ công. Bà xin được vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và giữ nguyên mọi ý kiến trình
- Ông Nguyễn Văn T3 và vợ là bà Nguyễn Phương Q1 thống nhất trình bày: Ngày 25/5/2012, ông bà được bố mẹ là cụ H7, cụ N1 tặng cho thửa đất số 71+72(1) + 73-7 diện tích là 110,3m², sử dụng riêng 62,0m², sử dụng chung 48,3m² tại ngõ A tổ C phố B, phường N, quận L, Hà Nội. Trên sơ đồ thể hiện thửa đất có ngõ đi chung, GCNQSDĐ đã được cơ quan Nhà nước cấp đúng quy định, đảm bảo quyền đi lại cho bà là chủ sở hữu sử dụng hợp pháp quyền sử dụng đất. Ông bà được biết gia đình bị đơn có những hành vi ngăn cản việc sử dụng ngõ đi chung của gia đình ông bà, ngõ đi chung không phải là đất của bị đơn bỏ ra làm đường. Hiện trạng cũng như lịch sử tồn tại đường đi này từ nhiều năm trước đây và bức tường được gia đình ông xây dựng và quản lý. Ông bà đồng ý với quan điểm khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị Toà án công nhận đây là ngõ công. Ông bà xin được vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và giữ nguyên mọi ý kiến trình
- Bà Tạ Thị T4 trình bày: Tháng 5/2022, bà có thuê 01 căn nhà cấp 4 của bà Nguyễn Thị H2 tại địa chỉ ngõ A, tổ C phố B, phường N, quận L, Hà Nội. Hiện tại bà đang sinh sống cùng con trai là cháu Nguyễn Thanh P3, sinh năm 2017 tại địa chỉ nhà thuê. Bà đang ở thuê nên không biết gì về việc các nguyên đơn khởi kiện về việc tranh chấp ngõ đi chung (ngõ công) tại Toà án nhân dân quận Long Biên với bên bị đơn là ông Nguyễn Văn H. Tôi không có liên quan gì về việc tranh chấp ngõ đi. Bà xin được vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và giữ nguyên mọi ý kiến đã trình bày cho đến khi Toà án nhân dân quận Long Biên giải quyết xong vụ án.
- Bà Trần Thị H3 trình bày: Bà đang sinh sống cùng chồng là ông Nguyễn Văn H và 02 con là Nguyễn Hoàng Hà P1, Nguyễn Hoàng D1 tại địa chỉ số nhà A ngõ A, tổ C phố B, phường N, quận L, Hà Nội. Do về làm dâu nên bà không nắm được nguồn gốc và sự tranh chấp về lối đi chung. Tuy nhiên theo chồng bà nói lại phần diện tích lối đi tranh chấp là nằm trong GCNQSDĐ của gia đình bà, có nguồn gốc là do mẹ chồng bà để lại và sử dụng từ trước đến nay. Gia đình nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa bao giờ sử dụng diện tích này làm ngõ đi. Đối với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Do điều kiện công việc không có thời gian đến Tòa án làm việc bà đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt bà.
- Ông Nguyễn Văn T5 trình bày: Ông thống nhất với nội dung ông Nguyễn Văn H trình bày tại Tòa án, ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn vì diện tích lối đi theo hiện trạng 46m² là lối đi chung có nguồn gốc là đất của mẹ ông để lại và chỉ có gia đình của ông Nguyễn Văn H, gia đình ông và gia đình ông T6 (cậu ruột ông) sử dụng.
- Bà Đào Thanh H4 trình bày: Bà đang sinh sống cùng chồng là ông Nguyễn Văn T5 và 02 con là Nguyễn Quang L, Nguyễn Quang H5 tại địa chỉ số nhà A, ngõ A, tổ C phố B, phường N, quận L, Hà Nội. Do về làm dâu nên bà không nắm được nguồn gốc và sự tranh chấp về lối đi chung. Tuy nhiên, theo chồng bà nói lại phần diện tích lối đi tranh chấp là nằm trong GCNQSDĐ của gia đình bà, có nguồn gốc là do mẹ chồng bà để lại và sử dụng từ trước đến nay. Gia đình nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phía nguyên đơn chưa bao giờ sử dụng diện tích này làm ngõ đi. Đối với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Do điều kiện công việc không có thời gian đến Tòa án làm việc bà đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt bà.
- Ông Hoàng Bá T6 trình bày: Về nguồn gốc thửa đất gia đình ông đang ở là do các cụ để lại không liên quan gì đến thửa đất của nguyên đơn và bị đơn - anh H, anh T5. Trước năm 1989, gia đình ông sử dụng một con đường khác đi cổng phía Nam ở phía sau đất của anh H, anh T5 để đi vào nhà hiện đang ở. Khoảng năm 1991-1992, do bị lũ lụt nên con đường bị lở không sử dụng được nên ông chỉ đạo 02 người cháu ruột (gọi ông là cậu ruột) là anh H, anh T5 tạo lập một con đường để gia đình ông và anh H, anh T5 (sau khi tách thửa) có đường đi ra. Hiện trạng con đường từ khi tạo lập năm 1991- 1992 cho đến nay không thay đổi kích thước, hình dạng. Đến năm 2004, khi làm thủ tục kê khai cấp GCNQSDĐ thì ông có phối hợp với chính quyền địa phường cùng anh H, anh T5 xác định rõ mốc giới phần diện tích đất thuộc quyền sử dụng của anh H, anh T5; mốc giới phần diện tích làm lối đi hiện tranh chấp tách hẳn với 02 GCNQSDĐ theo mức tỷ lệ tại biên bản họp phân chia nhà ở, đất ở giữa anh H và anh T5. Sau khi được cấp GCNQSDĐ thì gia đình anh H, anh T5 cùng gia đình ông không có ý kiến gì. Theo bản đồ năm 1993, diện tích đất tranh chấp thể hiện là lối đi chung của gia đình ông và gia đình anh H, anh T5. Hiện nay, tại địa chỉ số A, ngõ A phố B, phường N, quận L, Hà Nội, gia đình ông gồm có những người có tên sau hiện đang sinh sống: Ông - Hoàng Bá T6, sinh năm 1952; bà Phạm Thị Thanh T7, sinh năm 1958 (vợ ông); anh Hoàng Anh T8, sinh năm 1982 (con trai ông); chị Nguyễn Thị Thu H6, sinh năm 1986 (vợ anh T8); 03 con là cháu Hoàng Quế C, sinh năm 2014; cháu Hoàng Quế A, sinh năm 2016; cháu Hoàng Thanh T9, sinh năm 2020; anh Hoàng Minh T10, sinh năm 1984 (con trai ông); chị Vũ Thị M, sinh năm 1990 (vợ anh T10); 02 con là cháu Hoàng Gia V, sinh năm 2014; cháu Hoàng Phương A1, sinh năm 2017. Ngoài ra, không còn ai khác sinh sống. Đối với những người thuê phòng trọ là ông Phạm Tuấn A3, bà Lê Kim T11 và chị Nguyễn Phương L2 hiện nay không còn ở thuê nữa và đã chuyển đi nơi khác. Ông đã được Tòa án tống đạt kết quả xem xét thẩm định và định giá tài sản. Do tuổi cao, sức yếu đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
- Bà Phạm Thanh T7 trình bày: Bà nhất trí với lời khai của chồng bà là ông Hoàng Bá T6 và không có ý kiến gì khác. Do tuổi đã cao, đi lại khó khăn nên bà ủy quyền lại cho ông T6 và xin vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
- Ông Hoàng Minh T10 trình bày: Ông nhất trí với lời trình bày của bố ông là ông T6. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T10 có cung cấp video quay cảnh đổ bê tông lối đi năm 2019 để chứng minh ngõ đi này không phải ngõ đi công mà là của gia đình bị đơn và gia đình ông T6 và do gia đình bị đơn và gia đình ông T6 bỏ đất tạo thành, đổ bê tông mặt ngõ.
- Đối với ông Hoàng Anh T8 và vợ là bà Nguyễn Thị Thu H6, bà Vũ Thị M (vợ ông T10): Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là ông Hoàng Anh T8, bà Nguyễn Thị Thu H6, bà Vũ Thị M đến Tòa án làm việc và cung cấp tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án nhưng các ông bà đều ủy quyền cho ông Nguyễn Văn H trình bày ý kiến và cung cấp tại liệu chứng cứ cho Tòa án.
- Ủy ban nhân dân phường (UBND) N, quận L, Hà Nội cung cấp ý kiến: Theo sổ mục kê, bản đồ địa chính lưu trữ qua các thời kỳ thì phần diện tích lối đi tranh chấp và phần diện tích đất được cấp giấy chứng nhận cho các ông Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn T5 như sau: Theo bản đồ năm 1986, diện tích lối đi tranh chấp nằm trong thửa đất số 187, diện tích 355m², theo Sổ dã ngoại năm 1986 không thể hiện chủ sử dụng. Theo bản đồ năm 1993, diện tích lối đi tranh chấp không còn nằm trong thửa đất số 187 (diện tích 355m²) như bản đồ năm 1986 mà trở thành lối đi công. Diện tích lối đi này do Nhà nước đầu tư xây dựng và lắp đặt đèn cao áp cho mục đích công.
Hiện nay thửa đất của ông T5, ông H đã được cấp GCNQSDĐ từ năm 2005; mỗi thửa lại tách thành 02 thửa đất đứng tên ông H và vợ ông H là bà Trần Thị H3; ông T5 và vợ ông T5 là bà Đào Thanh H4 theo sổ bộ đất phi nông nghiệp 2022: Thửa đất số (74-1)-2 tờ bản đồ số 50 số GCN AD 495835 cấp ngày 5/4/2005 tại địa chỉ số A, ngõ A, B, tổ C, N, L, Hà Nội mã số thuế 8055806315; Thửa đất số (74-1)-1 tờ bản đồ số 50, số GCN AD 495835 tại địa chỉ số A ngõ A, tổ C N, L, Hà Nội, mã số thuế 8032170947 đứng tên bà Trần Thị H3; Thửa đất số (74-2)-2, tờ bản đồ số 50, số SCN AD 495833 tại địa chỉ số A, ngõ A, tổ C N, L, Hà Nội, mã số thuế 8109751351 đứng tên Nguyễn Văn T5; Thửa đất số (74-2)-1 tờ bản đồ số 50 số GCN AD 495833 tại địa chỉ số A, ngõ A, tổ C N, L, Hà Nội, mã số thuế 8123006197 đứng tên bà Đào Thanh H4.
Tại thời điểm năm 2022 ông T5 và ông H có nộp thuế diện tích lần lượt là ông T5 91,3m² (24825) và ông H 86m² (24826). Bà H3 và bà H4 lần lượt với diện tích 90m² và 90,7m² không có biên lai Chi cục thuế gửi về UBND phường N. Về biên bản họp phân chia nhà ở và đất ở ngày 7/12/2004 do các đương sự tự kê khai về diện tích sử dụng của từng đường sự. UBND phường cung cấp cho Tòa án bản đồ tờ 3 năm 1986 kèm số dã ngoại; bản đồ tờ 50 năm 1993 - 1996 kèm sổ mục kê năm 1993 - 1996; bản đồ tổng thể dự án. Do điều kiện công việc nên đại diện UBND phường N xin được vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 129/2023/DSST ngày 24/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội, đã xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn Văn H.
2. Xác định lối đi có diện tích 46m², kích thước được giới hạn bởi các điểm 1,2,3,4,5,6,7,1 (có sơ đồ kèm theo) tại địa chỉ ngõ A, B, tổ C phường N, L, Hà Nội là lối đi chung có nguồn gốc là lối đi công.
3. Buộc ông Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn T5 phải phá dỡ toàn bộ 01 bộ cổng sắt rộng 2,2m, diện tích 4,8m² và 01 bức tường thấp dày 0,1m, cao 1,18m, diện tích 19,2m² đã xây dựng trên lối đi chung để trả lại hiện trạng lối đi chung.
Ngoài ra, bản án còn quyết định xử lý tiền tạm ứng án phí, tuyên án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau phiên toà sơ thẩm:
Ngày 30/8/2023, ông Nguyễn Văn H, ông Hoàng Bá T6, ông Nguyễn Văn T5, ông Hoàng Minh T10 kháng cáo toàn bộ nôi dung bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Những người kháng cáo - ông Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn T5 trình bày:
Diện tích đất của mẹ ông H, ông T5 là Hoảng Thị K1 được Hợp tác xã cấp từ năm 1977; trước đó cụ H7 (bố của các nguyên đơn) đã được cấp đất và đã sinh sống tại mảnh đất bên cạnh. Khi được cấp, bà K1 xây nhà cấp 4 tại vị trí đất là ngõ đi tranh chấp hiện nay và dựa lưng vào đất nhà ông H7. Năm 1986, do bão đổ nhà nên bà K1 xây nhà tại vị trí nay ông H, ông T5 xây nhà. Ngay lúc mẹ các ông xây nhà này thì cụ H7 xây bức tường ngăn chia diện tích đất giữa hai nhà; nền ngõ phải tôn tạo đất nhiều lần (do gần song) nên bức tường này hiện là bức tường cao 60cm được thể hiện ở biên bản xem xét thẩm định của Toà án sơ thẩm và phúc thẩm.
Năm 1989, mẹ hai ông mất; hai anh em ông sống cùng với bà ngoại và cậu ruột tên là ông Hoàng Bá T6 ở diện tích đất liền kề (là đất tổ tiên để lại); nhà đất của ông T6 đi ngõ khác ra sông H.
Năm 1991, do bà ngoại ở với ông T6 ốm gần mất mà ngõ nhà ông T6 bị lở sông nên ba cậu cháu ông thống nhất anh em ông dành một phần đất làm ngõ đi chung cho ba cậu cháu đi ra ngõ A phố Đ phòng bà ngoại ông chết không có lối đưa quan tài ra. Bản đồ năm 1993 ghi là ngõ đi chung thực tế là ngõ đi chung của anh em ông và gia đình ông T6 chứ không phải là ngõ đi công. Gia đình nhà cụ H7 chưa bao giờ đi vào diện tích ngõ của ba cậu cháu ông.
Khoảng năm 2004-2005, nhà cụ H7 tiếp tục xây bức tường cao 3m dầy 20cm chạy dọc ranh giới 02 nhà. Sau đó, anh em ông cũng xây một bức tường thấp chủ động ngăn chia ranh giới. Năm 2005, hai anh em ông được cấp GCNQSDĐ, phần ngõ này có thoả thuận của hai anh em ông làm ngõ đi chung nên không thể hiện trong GCNQSDĐ.
Khoảng năm 2010 -2012, để đảm bảo an ninh gia đình ông làm cổng sắt có khoá, chỉ có ba gia đình (ông H, ông T5, ông T6) có khoá và đóng mở. Từ trước đến nay giữa gia đình hai ông và gia cụ H7 không có tranh chấp ranh giới, gia đình cụ H7 chưa bao giờ đi vào ngõ này.
Trước đây, gia đình cụ H7 đi ra lối đi to; do diện tích đất rộng phía ngoài đã xây hết công trình nên muốn đi vào ngõ riêng của gia đình hai ông để tách thửa được nhiều mảnh. Năm 2012, gia đình cụ H7 chia đất cho các con và lấy lý do bản đồ năm 1993-1996 ngõ đi này là ngõ đi công nên đã đập một mảng bức tường cao và có ý định trổ cổng ra ngõ riêng nhà hai ông nên gia đình hai ông và gia đình ông T6 phản đối và đã xây lại và gia cố bức tường thấp phía gia đình nhà ông. Việc này đã được U giải quyết khoảng năm 2013.
Đối với việc công trình xây dựng trên ngõ tranh chấp. Năm 2019, gia đình hai ông đổ bê tông ngõ, có video quay lại và hai ông đã nộp cho Toà án sơ thẩm video này. Gia đình hai ông có làm cống nắp bê tông; cùng lúc đó gia đình ông gia cố lại bức tường thành bức tường xây cao 1,2m như hiện nay. Về đèn cao áp thì do ngõ nhà ông sâu, tối nên mất an ninh; khi có chủ trương làm đèn cao áp cho các ngõ xóm thì cậu ông (ông T6) có đề nghị UBND phường đặt 01 cột đèn cao áp vào đoạn trong cổng sắt thay vì đặt đèn ở đầu ngõ ngoài cổng sắt.
Từ năm 1986 đến nay, gia đình ông không hiến tặng đất làm đường hay ngõ đi công; gia đình ông không hề bị thu hồi đất hay giải phóng mặt bằng làm đất công. Ông đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của hai ông và những người liên quan phía gia đình hai ông.
Người kháng cáo - ông Hoàng Bá T6, ông Hoàng Minh T10 trình bày:
Đồng ý với toàn bộ phần trình bày của ông H, ông T5 trình bày ở trên. Khi chính quyền làm đèn cao áp thì ông T6 có đề nghị UBND phường đặt 01 cột đèn cao áp vào đoạn trong cổng sắt như ông H, ông T5 khai ở trên. Lối đi này là của riêng gia đình ông H, ông T5 và gia đình ông T6; gia đình cụ H7 từ trước đến nay chưa bao giờ đi lối đi này.
Nguyên đơn - bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị D trình bày:
Các bà không đồng ý với kháng cáo của ông Nguyễn Văn H, ông Hoàng Bá T6, ông Nguyễn Văn T5, ông Hoàng Minh T10.
Nguồn gốc thửa đất 191, 192 - tờ bản đồ 1986 là bố của các nguyên đơn là cụ Nguyễn Văn H7 được Hợp tác xã cấp năm 1971 và cụ H7 mua thêm. Cả hai thửa đất này có mặt tiền tiếp giáp với ngõ to (nay là ngõ A phố Đ). Cạnh thửa 191 là diện tích đất của Hoàng Thị K - mẹ ông Nguyễn Văn H và ông Nguyễn Văn T5. Cả gia đình cụ H7 sinh sống trên nhà xây tại thửa đất 191, có đi ra đất tranh chấp phía đầu ngõ, không đi đoạn giữa ngõ. Khoảng 30 năm trước, cụ H7 có xây bức ngăn cách với thửa đất nhà anh H, anh T5; hiện là bức tường thấp cao khoảng 60cm nằm giữa ranh giới 02 nhà. Khoảng năm 2004, gia đình cụ H7 chuyển ra phần nhà nằm tiếp giáp với ngõ to (nay là ngõ A phố Đ); phần nhà trong cho thuê. Người thuê nhà làm nhà xưởng nên phần sát ngõ tranh chấp người thuê xây bức tường dầy 20cm, cao 3m và trổ cổng nằm ngoài phần đất tranh chấp, không đi vào diện tích ngõ tranh chấp.
Năm 2012, cụ H7 chia đất và tách thửa đất cho các con và phá bức tường cao 3m trước đây thì gia đình ông H, ông T5 phản đối và xây thêm bức tường thấp về phía đất nhà ông H, ông T5 cạnh bức tường cao phía nhà cụ H7. Giữa hai nhà xẩy ra tranh chấp và UBND phường giải quyết nhiều lần.
Cơ sở để nguyên đơn khởi kiện là theo bản đồ năm 1993-1996 thì ngõ đi này là ngõ đi công; phường đã đổ bê tông, đèn cao áp và làm đường cống nên đây được xác định là ngõ đi công. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
Các luật sư trình bày quan điểm tranh luận bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý vụ án đến phiên toà xét xử vụ án.
Về nội dung: Phía nguyên đơn khẳng định lối có diện tích 46 m² tại địa chỉ ngõ A B, phường N, L, Hà Nội là lối đi chung có nguồn gốc lối đi công. Trong khi đó, bị đơn và người có quyền và nghĩa vụ liên quan phía bị đơn khẳng định đây là lối đi riêng của gia đình bị đơn, thuộc phần diện tích đất 394m² tại thửa đất số 187 mà cụ K (mẹ bị đơn) được Hợp tác xã cấp năm 1987. Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho thấy tại tài liệu do UBND phường N cung cấp có nội dung: “Tại bản đồ năm 1986, diện tích lối đi tranh chấp nằm trong thửa đất số 187, diện tích 355m². Theo sổ dã ngoại năm 1986 không thể hiện chủ sử dụng; Tại bản đồ năm 1993, diện tích lối đi tranh chấp không còn nằm trong thửa số 187 mà trở thành lối đi công. Diện tích lối đi này do Nhà nước đầu tư xây dựng và lắp đặt đèn cao áp cho mục đích công”.
Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, UBND phường N khẳng định: “Theo bản đồ đo năm 1993 - 1996 được thể hiện thửa đất số 74, tờ bản đồ số 50, diện tích 357m². Sổ mục kê lập kèm theo thể hiện tên chủ sử dụng đất là Nguyễn Văn H. Đối chiếu bản đồ năm 1986 và bản đồ năm 1993- 1994 cho thấy, phần ngõ đi và thửa đất số 74, tờ bản đồ số 50 được hình thành từ một thửa đất tách ra, bản đồ 1986 thể hiện là thửa số 187, tờ bản đồ số 3. Hiện UBND phường không có hồ sơ lưu trữ tại thời điểm đo vẽ, lập bản đồ năm 1993. Về việc ngõ đi này có được đầu tư xây dựng cơ bản như làm cống, mặt ngõ, chiếu sáng... như các ngõ đi công trên địa bàn phường hay không thì UBND phường không có hồ sơ lưu trữ liên quan đến nội dung này. Phần diện tích đất tranh chấp không phải đóng thuế, phường không lưu trữ hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính về trật tự xây dựng đối với cổng sắt do ông H, ông T5 làm tại vị trí bắt đầu từ điểm đầu của ngõ tranh chấp.
Theo lời khai người làm chứng là cụ Hoàng Duy H10, sinh năm 1944 (nguyên là Bí thư chi bộ thôn B, người sinh sống cạnh các thửa đất của cụ K, cụ H7 (bố bà T11)) khẳng định: Thời điểm cụ H10 làm bí thư chi bộ của tổ dân phố phường Ngọc T12 và làm tổ giám sát xây dựng cộng đồng, khi đổ bê tông các ngõ, ngách trong tổ thì không đổ bê tông vào ngõ nhà ông H, ông T5 mà chỉ đổ đến sát nhà cụ H7. Lúc đó cụ có hỏi thì đội thi công trả lời là theo yêu cầu của lãnh đạo, đây là ngõ đi riêng của gia đình nên không đổ. Do đó, ông H, ông T5 phải tự đổ bê tông đối với lối đi riêng của nhà mình.
Ngoài ra, cụ Hoàng Duy H10 và cụ Phạm Duy M1 - đều là những bậc cao niên, đã sinh sống từ lâu tại thôn B (cụ M1 chuyển về đây từ năm 1965; còn cụ H10 sinh ra và lớn lên tại đây) và giáp với các thửa đất tranh chấp đều khẳng định: Phần diện tích ngõ đi đang có tranh chấp là lối đi riêng của gia đình bị đơn, vốn thuộc thửa đất số 187 trước đây, sau đó ông H, ông T5 thống nhất sử dụng lối đi này làm lối đi riêng của hai anh em và cho cậu ruột của hai ông là ông T6 đi nhờ. Về phía gia đình cụ H7, từ khi được cấp đất năm 1976 đến nay, gia đình cụ H7 đã sử dụng đất ổn định, có lối đi riêng như hiện nay để đi ra ngõ công mà không phải là lối đi đang có tranh chấp. Chỉ đến khi cụ H7 muốn tách đất cho các con thì mới phát sinh nhu cầu được sử dụng lối đi đang có tranh chấp nhưng phía gia đình bị đơn không đồng ý. Trên thực tế, bị đơn cũng đã xây cổng từ điểm bắt đầu ngõ đi tranh chấp vào năm 2012 và không bị UBND phường xử phạt về vấn đề này.
Tài liệu trong hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho ông T5 thể hiện: Tại biên bản xác định ranh giới thửa đất theo hiện trạng đang sử dụng do UBND phường N lập năm 2004, bản đồ đo đạc dự án tổng thể năm 2018, bản đồ địa chính năm 1993 cũng như GCNQSĐĐ cấp cho ông H và ông T5 thì phần diện tích lối đi tranh chấp không thể hiện là lối đi riêng của phía bị đơn. Ông H, ông T5 chỉ kê khai xin cấp GCNQSĐĐ tổng diện tích 358m² (ông H 176m², ông T5 182m²) là sử dụng riêng, không có diện tích đất sử dụng chung.
Như vậy, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đều thế hiện phần diện tích ngõ đi tranh chấp và thửa đất số 74, tờ bản đồ số 50, diện tích 357m² hiện ông H và ông T5 đang quản lý, sử dụng đều thuộc thửa đất số 187 trước đây. Mặc dù tại cấp sơ thẩm, UBND phường N khẳng định đây là ngõ đi công, do phường đầu tư đổ bê tông, làm đèn cao áp nhưng phía bị đơn không thừa nhận. Nay tại cấp phúc thẩm, UBND phường khẳng định không có tài liệu lưu trữ để xác định việc phường đã đầu tư xây dựng cơ bản đối với ngõ đi đang tranh chấp như các ngõ đi công. Không có tài liệu nào trong hồ sơ vụ án thể hiện phần diện tích lối đi tranh chấp trước đây thuộc quyền sử dụng của cụ K đã bị thu hồi và chuyển thành ngõ đi công. Việc ông H, ông T5, ông T6 không kê khai xin cấp GCNQSDĐ đối với diện tích đất này không đồng nghĩa với việc các ông từ bỏ quyền của mình đối với phần diện tích đất tranh chấp vốn thuộc thửa đất trước đây được Hợp tác xã Bắc Cầu cấp cho cụ K. Lời khai phía bị đơn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; phù hợp với lời khai người làm chứng là ông cụ Phạm Duy M2 và cụ Hoàng Duy H10.
Do đó, bản án sơ thẩm xác định lối đi tranh chấp là lối đi chung có nguồn gốc lối đi công là không có cơ sở. Kháng cáo của ông T5, ông H, ông T6, ông T10 có cơ sở chấp nhận.
Sau khi phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình diễn biến tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn T5, ông Hoàng Bá T6, ông Hoàng Minh T10, áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; sửa bản án sơ thẩm số 129/2023/DSST ngày 24/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội. Người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bà T là người cao tuổi nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về kháng cáo:
Tại phiên toà sơ thẩm ngày 24/8/2023 có mặt ông Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn T5, ông Hoàng Bá T6, ông Hoàng Minh T10.
Ngày 30/8/2023, ông Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn T5, ông Hoàng Bá T6, ông Hoàng Minh T10 có đơn kháng cáo và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm; người kháng cáo đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Do đó kháng cáo đảm bảo về chủ thể, hình thức, nội dung và trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về phạm vi kháng cáo của ông Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn T5, ông Hoàng Bá T6, ông Hoàng Minh T10 kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[1.2] Về quan hệ pháp luật:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu sử dụng lối đi và cho rằng diện tích lối đi tranh chấp là lối đi công; bị đơn cho rằng đây là lối đi riêng nên Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp quyền sử dụng đất theo khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; UBND phường N đã tổ chức hoà giải không thành đảm bảo điều kiện tiền tố tụng theo quy định tại Điều 203 Luật đất đai 2013.
[1.3] Về sự có mặt vắng mặt tại phiên toà phúc thẩm:
Toà án đã triệu tập hợp lệ phiên toà phiên toà lần hai đối với tất cả các đương sự; tại phiên toà có mặt bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị D, luật sư Nguyễn Thế T13, ông Nguyễn Văn H, luật sư Nguyễn Thị Kim T2, ông Nguyễn Văn T5, ông Hoàng Bá T6, ông Hoàng Minh T10; vắng mặt các đương sự khác. Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xét xử vắng mặt các đương sự theo khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn T5, ông Hoàng Bá T6, ông Hoàng Minh T10:
[2.1] Về nguồn gốc ngõ đi tranh chấp:
Nguyên đơn cho rằng ngõ đi tranh chấp là ngõ đi công; bị đơn cho rằng đây là ngõ đi chung của những người thuộc gia đình bị đơn chứ không phải ngõ đi chung với gia đình nguyên đơn, không phải là ngõ đi công.
Hội đồng xét xử nhận thấy,
Tại Công văn số 464/UBND-ĐC ngày 02/10/2024 của UBND phường N có nội dung: Đối chiếu bản đồ năm 1986 và bản đồ năm 1993-1996 cho thấy, phần ngõ đi tranh chấp và thửa đất số 74 tờ bản đồ số 50 (tờ bản đồ 1993-1996) được hình thành từ một thửa đất tách ra; bản đồ 1986 thể hiện là thửa 187, tờ bản đồ số 03. Công văn trả lời của UBND phường N phù hợp với bản đồ năm 1986 và bản đồ năm 1993-1996 (kèm theo công văn).
Như vậy, theo bản đồ năm 1986, ngõ đi tranh chấp nằm trong thửa đất số 187, có diện tích 355m²; theo Sổ dã ngoại năm 1986 không thể hiện chủ sử dụng. Tuy nhiên, hồ sơ trong vụ án và các đương sự, người làm chứng đều xác định thửa đất số 187, tờ bản đồ 03, bản đồ năm 1986 là đất của bà Hoàng Thị K (mẹ ông Nguyễn Văn H và ông Nguyễn Văn T5) được Hợp tác xã N2 3 cấp năm 1977.
Như vậy, có căn cứ ngõ đi tranh chấp có nguồn gốc thuộc đất gia đình bị đơn được cấp từ năm 1977.
[2.2] Về quá trình sử dụng diện tích đất là ngõ đi tranh chấp:
Hội đồng xét xử nhận thấy,
Hồ sơ tài liệu trong vụ án và các đương sự đều xác nhận gia đình bà Hoàng Thị K được cấp đất sát diện tích đất của gia đình cụ Nguyễn Văn H7 (là bố của các nguyên đơn); bà K đã xây nhà, ở trên đất từ khi được cấp, trước bản đồ năm 1986 được lập. Năm 1987, bà K kê khai và đóng thuế với diện tích 355m²; do thửa đất số 187, tờ bản đồ 03, bản đồ năm 1986 giáp với sông H nên diện tích thửa đất có sự thay đổi do sông lở, bồi và diện tích theo các thời kỳ có sự khác nhau.
Quá trình giải quyết vụ án, tại “Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 22/04/2024” thể hiện: Giữa thửa đất của cụ Nguyễn Văn H7 (là bố của các nguyên đơn) và diện tích đất là ngõ đi tranh chấp có 01 bức tường dày khoảng 20cm, cao khoảng 3m chạy dọc từ điểm đầu của ngõ đi tranh chấp đến cuối thửa đất của nguyên đơn; gia đình nguyên đơn không có lối đi ra ngõ đi tranh chấp. Áp sát bức tường cao 3m về phiá đất nhà nguyên đơn có bức tường thấp, để có trát cao khoảng 60cm.
Theo nguyên đơn cung cấp tại buổi làm việc ngày 22/04/2024 và tại phiên toà phúc thẩm thì bức tường thấp khoảng 60cm này do bố nguyên đơn là cụ H7 xây dựng từ khoảng hơn 30 năm trước; bức tường cao 3m (không có cổng trổ ra ngõ đi tranh chấp) do người thuê nhà của cụ H7 xây từ khoảng năm 2004-2005 từ bức tường thấp lên.
Cũng tại “Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 22/04/2024” thể hiện: Áp sát bức tường cao 3m, về phía đất của gia đình bị đơn là bức tường dày 0,1m cao khoảng 1,2m có trát do gia đình bị đơn xây dựng khoảng năm 2012 khi gia đình nguyên đơn đục bức tường cao một khoảng diện tích 5m²; bắt đầu từ điểm đầu của ngõ đi tranh chấp có 01 cổng sắt làm tạm, có khoá, rộng 2,2m diện tích 4,8m² giáp lối ra của xóm ngăn cách lối đi tranh chấp và ngõ đi chung của xóm.
Hội đồng xét xử nhận thấy,
bức tường thấp cao 60cm cụ H7 xây dựng đã khoảng hơn 30 năm trước; bức tường cao 3m người thuê nhà của nguyên đơn xây dựng cũng đã khoảng 20 năm, đều không trổ cửa, cổng đi ra ngõ tranh chấp. Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn khai trước đây nguyên đơn có đi vào ngõ đi tranh chấp, ở phía ngoài đầu cổng nhưng không có căn cứ chứng minh.
Hội đồng xét xử nhận thấy, ranh giới giữa thửa đất của gia đình cụ H7 (bố các nguyên đơn) và gia đình bị đơn đã được cả hai bên xác định và tự xây tường, hiện vẫn còn; giữa hai bên không có tranh chấp mốc giới; ít nhất đã hơn 30 năm gia đình nguyên đơn không đi vào, cũng không có cửa, cổng mở ra diện tích ngõ đi tranh chấp.
[2.3] Về việc gia đình bị đơn xây dựng, sử dụng cổng sắt có khoá:
Tài liệu trong vụ án thể hiện gia đình bị đơn có làm 01 cổng sắt làm tạm, có khoá đóng mở và chỉ gia đình bị đơn có khoá cổng. Việc bị đơn xây cổng sắt nguyên đơn không có đơn khiếu nại tranh chấp.
Toà án đã có yêu cầu cung cấp chứng cứ với nội dung: Quá trình quản lý xây dựng đô thị ở địa phương, UBND phường có xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng, yêu cầu dỡ bỏ cánh cổng sắt không; hồ sơ xử lý nếu có. Tại Công văn số 464/UBND-ĐC ngày 02/10/2024 của UBND phường N trả lời có nội dung: Bắt đầu từ điểm đầu của ngõ tranh chấp có 01 cổng sắt làm tạm, có khoá. UBND phường đã rà soát, kiểm tra hồ sơ lưu trữ tại phường, không có hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính về trật tự xây dựng đối với cảnh cổng sắt trên.
Như vậy, có căn cứ việc bị đơn xây bức tường thấp để ngăn chia ranh giới, xây cổng có khoá (chỉ có gia đình bị đơn có khoá và có thể đóng mở) từ năm 2012 nhưng nguyên đơn không có đơn khiếu nại.
Đối với các nội dung tại các Biên bản làm việc ngày 29/05/2013, Biên bản làm việc ngày 16/07/2013; Biên bản làm việc ngày 30/10/2013 của UBND phường N chỉ có nội dung giải quyết về việc cụ H7 đề nghị gia đình bị đơn cho đi vào ngõ đi tranh chấp; không có nội dung giải quyết khiếu nại về bức tường xây ngăn của gia đình bị đơn và việc gia đình bị đơn làm cổng sắt.
[2.4] Quá trình hình thành ngõ đi và bản đồ năm 1993-1996:
Như nhận định ở mục [2.1], ngõ tranh chấp có nguồn gốc thuộc đất gia đình mẹ các bị đơn là bà Hoàng Thị K được cấp từ năm 1977.
Theo bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phía gia đình bị đơn khai khoảng năm 1990-1991, do ngõ vào nhà ông T6 (em ruột bà K) bị lở nên ông H, ông T5 (lúc này bà K đã chết) cùng ông T6 thống nhất mở một lối đi trong phần đất của bà K giáp bức tường nhà ông H7 (bố nguyên đơn) chạy dài hết đất nhà ông H7 đến giáp với đất nhà ông T6 có chiều rộng 1,5m để gia đình ông Tó đi ra ngõ nay là 119 phố Đ.
Lời khai của bị đơn phù hợp với ý kiến của một số người làm chứng cụ thể như sau:
Tại “Biên bản hòa giải” ngày 16/7/2013” do UBND phường N tiến hành có sự tham gia của gia đình cụ H7, ông H; ông Lê Huy H11 - Tổ trưởng tổ dân phố 34 có ý kiến: Trước đây thôn có 01 con đường đi chung giáp bờ sông sau đó sông lở mất con đường rìa bờ sông. Gia đình anh H tự bỏ một phần đất làm ngõ đi. Tại “Biên bản xác minh ngày 06/7/2023” do Tòa án nhân dân quận Long Biên thực hiện, cũng ông Lê Huy H11 có ý kiến: Về nguồn gốc ngõ đi hình thành từ năm 1991, lúc đầu là của hai gia đình bà K, ông T6 sử dụng (bà K mất đi thì anh T5, anh H sử dụng).
Tại “Biên bản giải quyết đơn kiến nghị ngày 23/6/2020” có sự tham gia của bà T, bà Q2, bà N, anh H; cụ Phạm Duy M1 - Lãnh đạo tổ 34 cũ có ý kiến: Phần ngõ mà chị T tranh chấp là ngõ riêng của gia đình ông H do 2 anh em ông H tự lùi đất và mở ngõ đi từ năm 1991, gia đình chị T từ trước đến giờ chưa bao giờ đi vào phần ngõ của gia đình ông H. Cũng tại biên bản này cụ Hoàng Duy H10 - Bí thư chi bộ có ý kiến: Đất của ông H7 do hợp tác xã cấp đã để cổng đi, Từ trước đến giờ không đi vào ngõ đi đó (ngõ đi tranh chấp).
Tại cấp phúc thẩm, cụ Hoàng Duy H10 và cụ Phạm Duy M1 có ý kiến khẳng định: Phần diện tích ngõ đi đang có tranh chấp là lối đi riêng của gia đình bị đơn, vốn thuộc thửa đất số 187 trước đây, sau đó ông H, ông T5 thống nhất sử dụng lối đi này làm lối đi riêng của hai anh em và cho cậu ruột của hai ông là ông T6 đi nhờ. Về phía gia đình cụ H7, từ khi được cấp đất năm 1976 đến nay, gia đình cụ H7 đã sử dụng đất ổn định, có lối đi riêng như hiện nay để đi ra ngõ công mà không phải là lối đi đang có tranh chấp. Chỉ đến khi cụ H7 muốn tách đất cho các con thì mới phát sinh nhu cầu được sử dụng lối đi đang có tranh chấp nhưng phía gia đình bị đơn không đồng ý.
Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ việc ngõ đi tranh chấp đã được hình thành là lối đi chung giữa gia đình ông H, ông T5 và ông T6 từ trước khi có bản đồ năm 1993-1996; việc mở ngõ đi này là để phục vụ cho việc gia đình bị đơn, gia đình ông T5, gia đình ông T6 đi ra ngõ đi chung của xóm chứ không phải cho cả gia đình cụ H7 (bố các nguyên đơn) đi vì gia đình nguyên đơn đã có lối đi khác ra ngõ đi chung của xóm. Khi mở lối đi ra ngõ đi chung của xóm, gia đình bị đơn cũng không có văn bản hiến tặng đất cho chính quyền địa phương làm ngõ đi chung của thôn, xóm; Chính quyền địa phương cũng không có văn bản thu hồi đất để sử dụng vào mục đích công; Không có văn bản thoả thuận nào với gia đình nguyên đơn về việc để gia đình nguyên đơn cùng sử dụng đi này.
Tại bản đồ 1993-1993 thể hiện ngõ đi tranh chấp là ngõ đi chung giữa các thửa 70 (ông T6), thửa 71 (cụ H7), thửa 73 (cụ H7), thửa 74 (ông H, ông T5) của tờ bản đồ 50.
Tại Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ số 353/2024/QĐCCTLCC ngày 26/07/2024 của Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội yêu cầu UBND phường N cung cấp nội dung: Lý do tại sao một phần của thửa đất 187, tờ bản đồ số 03, bản đồ 1986 của gia đình bà Hoàng Thị K (mẹ các bị đơn) lại trở thành ngõ đi chung theo bản đồ 1993-1993; quá trình quản lý Nhà nước tại địa phương gia đình bị đơn có hiến đất hoặc bị thu hồi đất, giải phóng mặt bằng để làm công trình công cộng không; tài liệu (nếu có). Tuy nhiên, tại Công văn số 464/UBND-ĐC ngày 02/10/2024 của UBND phường N có nội dung: UBND phường không có hồ sơ lưu trữ tại thời điểm đo vẽ và lập bản đồ năm 1993-1996.
Như vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy việc Bản đồ năm 1993-1994 xác định đất của gia đình bị đơn là ngõ đi chung khi gia đình bị đơn không có hiến tặng đất không thuộc trường hợp thu hồi đất là trái với quy định tiểu mục 3, mục V của Quyết định số 201/CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước.
[2.5] Về các công trình xây dựng trên ngõ đi tranh chấp:
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày nội dung tại ngõ đi tranh chấp do U; bị đơn thừa nhận chỉ có đèn chiếu sang đặt trên ngõ tranh chấp do UBND phường N lắp do ngõ đi tối nên khi phường tiến hành lắp đặt thì ông T6 có nhờ đặt ở vị trí trong cổng sắt thay vì ngoài cổng sắt; còn các công trình khác (nền ngõ, cống) do gia đình bị đơn làm.
Hội đồng xét xử nhận thấy,
Theo lời khai người làm chứng là cụ Hoàng Duy H10, sinh năm 1944 (nguyên là Bí thư chi bộ thôn B) có nội dung: Thời điểm cụ H10 làm bí thư chi bộ của tổ dân phố phường Ngọc T12 và làm tổ giám sát xây dựng cộng đồng, khi đổ bê tông các ngõ, ngách trong tổ thì không đổ bê tông vào ngõ nhà ông H, ông T5 mà chỉ đổ đến sát nhà cụ H7. Lúc đó cụ có hỏi thì đội thi công trả lời là theo yêu cầu của lãnh đạo, đây là ngõ đi riêng của gia đình nên không đổ. Do đó, ông H, ông T5 phải tự đổ bê tông đối với lối đi riêng của nhà mình.
Tại Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ số 353/2024/QĐCCTLCC ngày 26/07/2024 của Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội yêu cầu UBND phường N cung cấp nội dung: Ngõ đi tranh chấp có được đầu tư xây dựng cơ bản như các ngõ đi công trong địa bàn phường không, tài liệu (nếu có). Tuy nhiên, tại Công văn số 464/UBND-ĐC ngày 02/10/2024 của UBND phường N có nội dung: UBND phường không có hồ sơ lưu liên quan đến nội dung này.
Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, bị đơn có xuất trình video quay việc gia đình bị đơn đổ bê tông ngõ (nằm trong cổng sắt). Tại cấp phúc thẩm, bị đơn xuất trình Vi bằng số 1472/2024/VB-TPL lập ngày 24/10/2024, ghi nhận sự việc video gia đình bị đơn đổ bê tông ngõ (nằm trong cổng sắt) vào ngày 22/11/2019.
Tại “Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 22/04/2024” thể hiện nội dung: Hai nắp cống trong và ngoài cổng sắt không giống nhau; trong đó, tại phần ngõ đi tranh chấp (phần trong cổng sắt) có cống nắp bê tông; phần ngoài cổng sắt có nắp cống nan sắt.
Khi gia đình cụ Nguyễn Văn H7 chia đất cho các con mới tách thửa đất để đi vào ngõ tranh chấp này; tuy nhiên, khi gia đình bị đơn không đồng ý thì cụ H7 đã đề nghị thỏa thuận mua ngõ thể hiện tại “Biên bản làm việc ngày 29/05/2013”, cụ Nguyễn Văn H7 trình bày: “Gia đình tôi có đến gặp gỡ, thoả thuận để sử dụng chung ngõ nhưng anh H không đồng ý”. Ông Nguyễn Văn H12 có ý kiến: “Hai gia đình có hoà giải nhưng không mời địa phương. Theo gia đình ông H7, anh H đưa ra mức đền bù để gia đình đi chung ngõ với mức giá hơi cao; gia đình ông H7 có thoả thuận đưa ra mức giá khác phù hợp để chấp nhận nhưng anh H không đồng ý”.
Từ những phân tích tại mục [2] Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: Diện tích ngõ đi tranh chấp là một phần của thửa 187, tờ bản đồ số 03, bản đồ 1986 của bà Hoàng Thị K (mẹ các bị đơn) được cấp từ năm 1977. Ranh giới đất của gia đình cụ H7 (bố các nguyên đơn) và gia đình bị đơn đã được cả hai bên xác định và tự xây tường, hiện vẫn còn; giữa hai bên không có tranh chấp mốc giới. Bản đồ năm 1993-1994 xác định một phần đất của gia đình bị đơn thành ngõ đi chung khi gia đình bị đơn không có hiến tặng đất, không thuộc trường hợp thu hồi đất. Gia đình các nguyên đơn không đi vào, cũng không có cửa, cổng mở ra diện tích ngõ đi tranh chấp. Trên diện tích ngõ đi ngoài 1 đèn chiếu sáng do UBND phường lắp thì đường bê tông, cống do gia đình bị đơn đầu tư làm. Phía ngoài của ngõ đi tranh chấp tiếp giáp với ngõ xóm có cổng sắt, hai cánh có khoá do gia đình bị đơn làm từ năm 2012; gia đình nguyên đơn không có khiếu nại và gia đình bị đơn không bị xử phạt vi phạm hành chính.
Toàn bộ diện tích đất của gia đình cụ Nguyễn Văn H7 tách thửa và đã được cấp GCNQSDĐ hiện là đất trống, đang mở cổng đi thẳng ra đường ngõ xóm, không đi vào ngõ đi tranh chấp.
Căn cứ Điều 163, Điều 164, Điều 166, Điều 169 Bộ luật dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xác định ngõ đi tranh chấp là ngõ đi chung; buộc ông H, ông T5 dỡ bỏ tường và cổng sắt cản trở việc mở cổng ra lối đi chung của các nguyên đơn. Do vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của ông Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn T5, ông Hoàng Bá T6, ông Hoàng Minh T10; xác định phần ngõ đi này là của chung gia đình ông H, ông T5, ông T6 và những thửa đất được tách từ các thửa đất thuộc gia đình ông H, ông T5, ông T6; kiến nghị các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh bản đồ; điều chỉnh các GCNQSDĐ liên quan đến nội dung xác định ngõ đi tranh chấp như nhận định ở trên.
[3] Về án phí:
[3.1] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do không được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên nguyên đơn - bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; bà Nguyễn Thị T là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009.
Ông Nguyễn Văn H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[3.2] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Do được chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm nên những người kháng cáo - ông Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn T5, ông Hoàng Bá T6, ông Hoàng Minh T10 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Điều 163, Điều 164, Điều 166, Điều 169 Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
- - Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009;
- - Khoản 9 Điều 26, Điều 271, Điều 272, Điều 273; khoản 2 Điều 296; khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Tiểu mục 3, mục V của Quyết định số 201/CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn T5, ông Hoàng Bá T6, ông Hoàng Minh T10; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 129/2023/DSST ngày 24/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:
[1.1] Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn Văn H về việc: Xác định lối đi có diện tích 46m² (kích thước được giới hạn bởi các điểm 1,2,3,4,5,6,7,1 có sơ đồ kèm theo) tại địa chỉ ngõ A B, tổ C phường N, quận L, Thành phố Hà Nội là ngõ đi chung; buộc ông H, ông T5 dỡ bỏ tường và cổng sắt cản trở việc mở cổng ra lối đi chung.
[1.2] Xác định lối đi có diện tích 46m² (kích thước được giới hạn bởi các điểm 1,2,3,4,5,6,7,1 có sơ đồ kèm theo) tại địa chỉ ngõ A B, tổ C phường N, quận L, Thành phố Hà Nội là lối đi chung của gia đình ông Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn T5, ông Hoàng Bá T6 và những thửa đất được tách từ các thửa đất thuộc gia đình ông Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn T5, ông Hoàng Bá T6.
[1.3] Kiến nghị các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh bản đồ trong đó xác định lối đi có diện tích 46m² (kích thước được giới hạn bởi các điểm 1,2,3,4,5,6,7,1, có sơ đồ kèm theo) tại địa chỉ ngõ A B, tổ C phường N, L, Hà Nội là lối đi chung của gia đình ông Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn T5, ông Hoàng Bá T6 và những thửa đất được tách từ các thửa đất thuộc gia đình ông Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn T5, ông Hoàng Bá T6.
[1.4] Kiến nghị các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất liên quan đến nội dung xác định lối đi có diện tích 46m² (kích thước được giới hạn bởi các điểm 1,2,3,4,5,6,7,1 có sơ đồ kèm theo) tại địa chỉ ngõ A B, tổ C phường N, quận L, Thành phố Hà Nội là lối đi chung của gia đình ông Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn T5, ông Hoàng Bá T6 và những thửa đất được tách từ các thửa đất thuộc gia đình ông Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn T5, ông Hoàng Bá T6.
[2] Về án phí:
Bà Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm; đối trừ số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thị D đã nộp theo các biên lai số 0064782 ngày 4/11/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên; hoàn trả bà Nguyễn Thị D 2.700.000 (hai triệu bảy trăm nghìn) đồng.
Bà Nguyễn Thị T được miễn án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả bà Nguyễn Thị T 3.000.000 (ba triệu) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thị T đã nộp theo biên lai số 0064783 ngày 4/11/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên.
Ông Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn T5, ông Hoàng Bá T6, ông Hoàng Minh T10 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; hoàn trả ông Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn T5, ông Hoàng Minh T10 mỗi người 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí số 0066187, 0066186, 0066188 ngày 05/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày Tòa tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu Hồng |
Bản án số 691/2024/DS-PT ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 691/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
