TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 690/2024/DS-PT Ngày: 09/8/2024 V/v tranh chấp đòi tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Bùi Thị Kim Dung |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Kim Cương |
| Bà Trần Thị Kim Quy |
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ái - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 529/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi tài sản".
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 292/2024/DS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3714/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1983.
- Địa chỉ: Số A TL27 khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Cảnh T1, sinh năm 1994. (xin vắng mặt)
- Địa chỉ: P Lexington R, F M, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Địa chỉ liên hệ: Tầng C, số F đường H, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
- (Theo giấy uỷ quyền số công chứng 023353 lập ngày 28/10/2021 tại Văn phòng C).
- - Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ1.
- Trụ sở: Số A đường P, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Chu Xuân L – Tổng Giám đốc.
- Người đại diện theo ủy quyền:
- - Ông Nguyễn Thanh L1, sinh năm 1982. (vắng mặt)
- - Ông Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1974. (xin vắng mặt)
- Địa chỉ liên lạc: Số A đường P, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- (Theo giấy ủy quyền số 617/UQ-WASECO ngày 11/12/2023).
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty Trách nhiệm hữu hạn X.
- Trụ sở: Số F đường N - X, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
- Người đại diện theo pháp luật:
- Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1983 – Giám đốc. (xin vắng mặt)
- Địa chỉ: Số A TL27 khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Võ Trần Anh T2, sinh năm 1984. (xin vắng mặt)
- Địa chỉ: Số A TL27 khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Người kháng cáo: Bị đơn Công ty Cổ phần Đ1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/10/2021; đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện đề ngày 14/3/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Xuân T có ông Nguyễn Cảnh T1 là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Năm 2016 Công ty Cổ phần Đ1 (gọi tắt là Công ty W) triển khai dự án Đầu tư xây dựng trang trại chăn nuôi bò sữa tập trung quy mô lớn, ứng dụng Công nghệ cao (Giai đoạn I). Thông qua quen biết với ông Nguyễn Duy H là Tổng Giám đốc, ông Nguyễn Xuân T được Công ty W mời tham gia dự án với tư cách là bên nhận thầu. Ông T nhận thầu với tư cách cá nhân và tự mình thực hiện các gói thầu dưới hình thức giao nhận khoán, là người bỏ toàn bộ chi phí để thực hiện gói thầu, tự đứng ra thuê nhân công, trả tiền lương cho nhân công, mua nguyên vật liệu... và nhận phí giao khoán theo quy định tại hợp đồng giao khoán và phụ lục. Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện đúng quy chế hoạt động, Công ty W yêu cầu bên giao nhận khoán phải hoạt động dưới danh nghĩa là Đội Xây lắp số 7 (Đội Xây lắp số G trực thuộc Công ty W, không có tư cách pháp nhân), đồng thời ông T phải ký kết một số văn bản mang tính hình thức như giấy ủy quyền, hợp đồng lao động.
Ngày 22/10/2016, Công ty W và Đội Xây lắp số G (thực tế là cá nhân ông T) ký kết Hợp đồng giao khoán số 28/HĐGK để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng trang trại chăn nuôi bò sữa tập trung quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, gói thầu 9.2 xây dựng trang trại phần II, hạng mục: chuồng bò vắt sữa và chuồng nuôi bê 0-7 ngày, 7 ngày đến giờ 3 tháng tuổi, bò tơ 4-7 tháng phần xây dựng, điện nước, hàng rào sân chơi cho bò trị giá 4.748.421.627 đồng và ngày 10/10/2017 tiếp tục ký Phụ lục hợp đồng số 01 để bổ sung phần việc giao khoán trị giá 49.227.265 đồng; tổng giá trị của hợp đồng sau khi bổ sung là 4.797.648.892 đồng. Ông T đã tiếp nhận và thực hiện đúng các công việc quy định tại hợp đồng và bàn giao đúng tiến độ.
Ngày 31/10/2017, ông T và Công ty W ký biên bản đối chiếu công nợ, theo đó tổng công nợ mà Công ty W phải trả cho ông T là 1.204.510.549 đồng. Ngày 16/11/2017, ông T và Công ty W ký biên bản thanh lý hợp đồng giao nhận khoán số 837/CT-TCKT, trong đó xác định số tiền mà Công ty W phải trả cho ông T là 1.204.510.549 đồng nhưng do Công ty W không thực hiện nên ông T khởi kiện yêu cầu Công ty W trả số tiền trên và trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
*Bị đơn Công ty Cổ phần Đ1 có ông Nguyễn Thanh L1 và ông Nguyễn Ngọc Đ là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Căn cứ Hợp đồng số 22/2016/HĐKT ngày 19/10/2016 giữa Công ty Cổ phần Đ2 (viết tắt Công ty Đ2) và Công ty W về việc thi công xây dựng trang trại phần II thuộc Dự án: Đầu tư xây dựng trang trại chăn nuôi bò sữa tập trung quy mô lớn ứng dụng công nghệ cao (Giai đoạn 1); căn cứ quyết định giao nhiệm vụ WA.KH.QLXL 21/2016 ngày 21/10/2016 về việc giao nhiệm vụ cho Đội xây lắp số 7 thi công xây lắp công trình: Chuồng nuôi bò sinh sản (chuồng nuôi bỏ vặt sữa 13A) và chuồng nuôi bê 0-7 ngày, 7 ngày-3 tháng tuổi, bò tơ 4-7 tháng (C) thuộc gói thầu 9.2 xây dựng trang trại phần II dự án: Đầu tư xây dựng trang trại chăn nuôi bò sữa tập trung quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao (giai đoạn I); căn cứ giấy ủy quyền số WA.XL07.UQ16 ngày 22/10/2016 giữa ông Nguyễn Gia Q và ông T; căn cứ chức năng, nhiệm vụ và năng lực xây lắp của Đội Xây lắp số 07. Ngày 22/10/2016, Công ty W ký Hợp đồng giao nhận khoán số 28/HĐGK/2016 với Đội Xây lắp số 7 trực thuộc Công ty W do ông T là đội phó đại diện theo ủy quyền của đội trưởng ông Nguyễn Gia Q. Theo đó Công ty W giao cho Đội xây lắp số 7 thi công xây dựng trang trại phần II thuộc Dự án: Đầu tư xây dựng trang trại chăn nuôi bò sữa tập trung quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao. Mặc dù giữa Công ty W và Đội Xây lắp số G ký hợp đồng giao nhận khoán nhưng thực chất là hợp đồng giao công việc cho Đội Xây lắp số 7 do ông Q làm đội trưởng. Do đó mối quan hệ giữa Công ty W và ông Q là quan hệ giữa người sử dụng lao động - người lao động và những việc làm của Đội Xây lắp số G do ông Q làm đội trưởng thì ông Q phải chịu trách nhiệm trước Công ty W.
Ngày 31/10/2017 Công ty W và ông T, đại diện Đội Xây lắp số G, đã lập biên bản đối chiếu công nợ, theo đó Công ty W xác nhận hiện còn nợ của Đội Xây lắp số 7 do ông T làm đại diện số tiền 1.204.510.549 đồng. Ngày 07/11/2017, ông T có giấy đề nghị trả và tại phần ghi chú: Đề nghị chuyển khoản số tiền trên cho Công ty TNHH X (viết tắt Công ty X). Do đó, Công ty W đã trả cho ông T hết số tiền trên thông qua Công ty X theo ủy nhiệm chi ngày 30/11/2017 số tiền 350.000.000 đồng, ngày 07/12/2017 số tiền 365.628.000 đồng, ngày 12/01/2018 số tiền 33.411.300 đồng, ngày 09/01/2018 số tiền 33.411.300 đồng, ngày 30/01/2018 số tiền 114.000.000 đồng và số tiền còn lại được cấn trừ vào khoản nợ mà Công ty X phải trả cho Công ty W theo biên bản đối chiếu công nợ ngày 30/3/2018 giữa Công ty W và Công ty X. Như vậy, Công ty W đã trả đầy đủ cho ông T số tiền nêu trên nên yêu cầu khởi kiện của ông T là không có cơ sở.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH X có ông Nguyễn Xuân T là người đại diện theo pháp luật trình bày:
Công ty X không tham gia ký kết hợp đồng giao khoán số 28/HĐGK ngày 22/10/2016 với Công ty W mà do cá nhân ông T đứng ra nhận thầu.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Trần Anh T2 trình bày:
Bà T2 là vợ của ông Nguyễn Xuân T. Theo biên bản đối chiếu công nợ ngày 31/10/2017 giữa Công ty W và ông T thì phía Công ty W phải trả cho Đội Xây lắp số G nhưng thực tế là cho ông T với số tiền 1.204.510.549 đồng. Ngày 31/8/2018, bà T2 có thay mặt ông T nhận số tiền 114.000.000 đồng từ Công ty W, đây là số tiền trong tổng số tiền 1.204.510.549 đồng mà Công ty W phải trả cho ông T, ngoài ra bà không nhận thêm bất cứ khoản tiền nào từ Công ty W.
Tại phiên tòa sơ thẩm,
Ông Nguyễn Cảnh T1 là người đại diện của nguyên đơn trình bày: Theo đơn khởi kiện, ông T yêu cầu Công ty W trả số tiền 1.204.510.549 đồng, tuy nhiên sau khi đối chiếu các chứng từ do Công ty W cung cấp thì ông T xác định Công ty W đã trả cho ông T số tiền 863.039.300 đồng, cụ thể: ngày 30/11/2017 là 350.000.000 đồng, ngày 07/12/2017 là 365.628.000 đồng, ngày 12/01/2018 là 33.411.300 đồng và ngày 31/01/2018 là 114.000.000 đồng. Như vậy, ông T thay đổi so với yêu cầu khởi kiện ban đầu về số tiền như sau: 1.204.510.549 đồng - 863.039.300 đồng = 341.471.249 đồng, nay ông T yêu cầu Công ty W trả số tiền còn lại là 341.471.249 đồng và trả một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ông Nguyễn Thanh L1 và ông Nguyễn Ngọc Đ là người đại diện của bị đơn trình bày: Công ty W đã trả đủ số tiền cho ông T nên yêu cầu của ông T là không có cơ sở, vì vậy yêu cầu Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T và trả đơn khởi kiện cho ông T.
Ông Nguyễn Xuân T là người đại diện theo pháp luật của Công ty X trình bày: Công ty X không thi công xây dựng trang trại phần II thuộc Dự án: Đầu tư xây dựng trang trại chăn nuôi bò sữa tập trung quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao (Giai đoạn 1) liên quan đến hợp đồng giao khoán số 28/HĐGK/2016 ngày 22/12/2016 nhưng Công ty X và Công ty W có ký hợp đồng thực hiện các dự án đầu tư khác, để thuận lợi trong việc thanh toán thì ngày 07/11/2017 ông có đề nghị Công ty W chuyển số tiền 681.689.548 đồng cho Công ty X theo hóa đơn chứng từ số 0005044 ngày 09/10/2017 và số 0005047 ngày 25/10/2017; ngoài ra Công ty X không nhận thêm bất cứ khoản tiền nào từ Công ty W.
Bà Võ Trần Anh T2 có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên ý kiến trình bày.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 292/2024/DS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68, khoản 1 Điều 147, Điều 193, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 274, Điều 275, Điều 276, Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng Luật Phí và Lệ phí;
Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân T.
Buộc Công ty Cổ phần Đ1 trả cho ông Nguyễn Xuân T số tiền 341.471.249 (Ba trăm bốn mươi mốt triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn hai trăm bốn mươi chín) đồng. Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
Sau đó, bị đơn Công ty Cổ phần Đ1 kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm như sau:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, đảm bảo cho các đương sự có các quyền và nghĩa vụ theo quy định; gửi các Quyết định, Thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự đầy đủ, đúng thời hạn. Hội đồng xét xử đúng thành phần, phiên tòa diễn ra theo đúng trình tự và quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Công ty Cổ phần Đ1 (gọi tắt là Công ty W) kháng cáo cho rằng Hợp đồng giao khoán số 28/HĐGK/2016 ngày 22/10/2016 và Phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ/KH-ĐT ngày 10/10/2017 được ký giữa Công ty W và Đội Xây lắp số G; ông Nguyễn Xuân T chỉ là Đội phó Đội Xây lắp số 7, đại diện Đội Xây lắp số G đứng ra ký Hợp đồng, do đó ông T không có quyền khởi kiện Công ty W để đòi tài sản với tư cách cá nhân ông T.
Hội đồng xét xử nhận thấy, mặc dù tại Hợp đồng giao khoán và Phụ lục hợp đồng thể hiện Công ty W ký với Đội Xây lắp số 7 do ông T là Đội phó đại diện; nhưng qua các tài liệu như Biên bản đối chiếu công nợ, Biên bản thanh lý hợp đồng, các Giấy đề nghị thanh toán, Ủy nhiệm chi, Phiếu chi... thể hiện mọi giao dịch đều do Công ty W thực hiện trực tiếp với ông T; các khoản tiền được Công ty chi trả cho vợ ông T hoặc cho các Công ty có liên quan đến ông T, theo yêu cầu của ông T. Do đó việc ông T cho rằng Công ty W còn nợ ông một khoản tiền và khởi kiện đến Tòa án để yêu cầu giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Tại đơn kháng cáo, Công ty W trình bày trong số tiền 341.471.249 đồng mà bản án sơ thẩm buộc Công ty phải trả cho ông T đã bao gồm số tiền 333.160.113 đồng được Công ty thỏa thuận với ông T cấn trừ vào khoản nợ mà Công ty TNHH X (gọi tắt là Công ty X) do ông T làm Giám đốc phải trả cho Công ty W.
Hội đồng xét xử nhận thấy, theo các tài liệu do Công ty W cung cấp thì vào ngày 29/01/2016, giữa Công ty W và Công ty X do ông Nguyễn Xuân S làm Giám đốc có ký kết Hợp đồng số 08/2016/HĐKT để thi công Trường mẫu giáo Dự án nâng cấp đô thị thành phố C. Đến ngày 30/3/2018 giữa Công ty W và Công ty X có bản đối chiếu công nợ, theo đó tính đến ngày 31/3/2018 thì Công ty X còn nợ Công ty W số tiền 1.578.202.802 đồng. Tuy nhiên, Công ty W không cung cấp được tài liệu chứng minh việc hai bên đã thỏa thuận cấn trừ số tiền 333.160.113 đồng mà Công ty W còn nợ ông T vào số tiền 1.578.202.802 đồng mà Công ty X còn nợ Công ty W. Khoản nợ giữa Công ty W và Công ty X không liên quan đến số tiền Công ty W phải trả cho ông T.
[3] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn phải nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 274, Điều 275, Điều 276, Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Áp dụng Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự;
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần Đ1 (Công ty W). Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân T.
Buộc Công ty Cổ phần Đ1 trả cho ông Nguyễn Xuân T số tiền 341.471.249 (Ba trăm bốn mươi mốt triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn hai trăm bốn mươi chín) đồng. Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm:
- Công ty Cổ phần Đ1 phải chịu số tiền án phí sơ thẩm là 17.073.562 (Mười bảy triệu không trăm bảy mươi ba nghìn năm trăm sáu mươi hai) đồng.
- H1 lại cho ông Nguyễn Xuân T số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 24.067.650 (Hai mươi bốn triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn sáu trăm năm mươi) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0030663 ngày 07 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Công ty Cổ phần Đ1 phải chịu số tiền án phí phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng án phí mà Công ty đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001956 ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Kim Dung |
7
Bản án số 690/2024/DS-PT ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi tài sản
- Số bản án: 690/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đòi tài sản
