Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:690/2025/HS-PT

Ngày 12-11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Lộc.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Huỳnh Đức;

Ông Nguyễn Thanh Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở 2) xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 534/2025/TLPT-HS ngày 06 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Lê Minh C do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 91/2025/HS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Lê Minh C sinh năm 1991, tại tỉnh ĐắkLắk; nơi cư trú: Thôn T, xã E, huyện C, tỉnh ĐắkLắk (nay là xã E, tỉnh ĐắkLắk); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh H và bà Nguyễn Thị H1; có vợ và 02 con; tiền sự, tiền án: không; bị cáo bị bắt giam từ ngày 25 tháng 8 năm 2025 cho đến nay, có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 bị hại, 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án do không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lê Minh C và ông Đoàn Thông P là nhân viên của Công ty Cổ phần D (gọi tắt là Công ty D). Ông P là nhân viên giao hàng, thu tiền tại khu vực Bình Dương thuộc bộ phận Logistic, C là nhân viên bán hàng (trình dược viên) tại khu vực B thuộc bộ phận kinh doanh. Nhiệm vụ của C là tìm kiếm thị trường, nhận đơn và lên đơn thuốc gửi về Công ty D, sau khi nhận thông tin từ C gửi Công ty D duyệt đơn, xuất hàng giao cho ông P để ông P đi giao hàng và thu tiền sau đó chuyển tiền về Công ty D.

Khi làm tại Công ty D, C thường lên đơn thuốc cho Công ty TNHH A, địa chỉ 26A, B đường H, khu phố B, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh) và Quầy thuốc số 39 địa chỉ Ấp B xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh). C biết được nhu cầu, số lượng thuốc cần nhập từ 02 nhà thuốc trên, biết chiết khấu của 02 nhà thuốc trên từ Công ty D.

Khi làm việc giữa ông P và C quen nhau, ông P nhiều lần nhận thuốc từ Công ty D rồi nhờ C đi giao hàng và thu tiền từ khách hàng về đưa lại ông P để ông P chuyển tiền về Công ty D.

Theo quy định của Công ty D, trường hợp sau khi thuốc đã xuất kho nếu phát sinh sai sót về số lượng, loại thuốc thì trình dược viên phải chịu trách nhiệm với số lượng và loại thuốc này. Công ty D không nhận lại thuốc đã xuất kho. Trong quá trình trả tiền thì phía đơn vị mua thuốc có thể được thiếu nợ tiền (chậm thanh toán trong thời gian 1 tháng nhưng phải ký xác nhận vào giấy tờ). Để xử lý những đơn hàng có sai sót này, C sẽ bán số lượng, loại thuốc này cho Nhà thuốc Anh T địa chỉ tổ A khu phố K, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) và giao tiền cho ông P để nộp về Công ty D.

Lợi dụng quy trình này, mặc dù Công ty TNHH A và Quầy thuốc số 39 không có nhu cầu đặt hàng số lượng thuốc cụ thể nhưng C đã lên đơn, báo về cho Công ty D việc Công ty TNHH A và Quầy thuốc số 39 đặt số lượng, chủng loại thuốc để Công ty D xuất thuốc cho P đi giao cho Công ty TNHH A và Q thuốc số 39. Sau khi ông P nhận số lượng, loại thuốc từ Công ty D, C nói P để C đi giao số lượng, chủng loại thuốc này và có trách nhiệm thu tiền về giao lại P, khi C mang thuốc đi giao nhưng không giao cho Công ty TNHH A và Q thuốc số 39 mà mang bán cho Nhà thuốc Anh T và nhận tiền sử dụng riêng. C có báo lại ông P việc Công ty TNHH A và Q thuốc số 39 thiếu nợ tiền sẽ trả sau, bằng cách thức như trên C đã chiếm đoạt được số tiền bán thuốc trong 6 ngày: Ngày 13/11/2023 số tiền 79.108.411 đồng; ngày 21/12/2023 số tiền 6.904.179 đồng; ngày 20/02/2024 số tiền 29.167.884 đồng; ngày 24/02/2024 số tiền 9.234.077 đồng; ngày 29/02/2024 số tiền 6.899.897 đồng; ngày 04/3/2024 số tiền 9.720.081 đồng. Tổng số tiền 141.034.529 đồng.

Về phía công ty D khi không thấy tiền nhập vào hệ thống, kiểm tra nơi nhận thuốc thì xác định không nhận thuốc vào các ngày trên và không thiếu nợ tiền đã yêu cầu ông Phúc hoàn lại tiền, ông Phúc trình bày việc giao và nhờ Châu đi giao thuốc với Công ty, Công ty đã yêu cầu Châu hoàn lại tiền sau đó làm đơn tố giác hành vi của Phúc, Châu.

Ngày 12/11/2024, Công an huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tiếp nhận tố giác về tội phạm của Công ty Boston và giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 16/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh) ra Quyết định khởi tố vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 17/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh) ban hành Công văn số 04/VKSPC-TB về việc kiểm sát vụ án hình sự theo thẩm quyền gửi Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh).

Kết luận định giá tài sản ngày 11/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (nay là xã Phú Giáo, Thành phố Hồ Chí Minh) kết luận: Tổng giá trị số thuốc Châu đã chiếm đoạt 06 lần của Công ty Boston là 159.102.600 đồng.

Đối với Phúc, quá trình điều tra xác định Phúc không biết việc Châu tự lập đơn thuốc để chiếm đoạt tài sản của Công ty Boston nên Cơ quan điều tra không xử lý

Về trách nhiệm dân sự: Ông Lê Minh Huân là cha ruột bị cáo Lê Minh Châu đã bồi thường toàn bộ số tiền Châu đã chiếm đoạt của Công ty Boston.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 91/2025/HS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Minh Châu 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 8 năm 2025

Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 04 tháng 9 năm 2025, bị cáo Lê Minh Châu kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Lê Minh Châu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới; mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm của của Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sớm được trở về chăm lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa như Tòa án cấp sơ thẩm nhận định là đúng.

Đơn kháng cáo của bị cáo thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung: Căn cứ vào nội dung vụ án, kết quả tranh luận tại phiên tòa, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo; Hội đồng xét xử nhận định như sau: Trong thời gian làm việc tại Công ty Cổ phần dược phẩm Boston Việt Nam từ tháng 11/2023 đến tháng 3/2024, bị cáo Châu đã đưa thông tin gian dối (tự lên đơn thuốc như số lượng thuốc cần nhập (mua) của Công ty TNHH An Thịnh Medic và Quầy thuốc số 39) để Công ty Cổ phần dược phẩm Boston Việt Nam tin tưởng xuất số lượng thuốc giao cho Đoàn Thông Phúc để Phúc đi giao cho Công ty TNHH An Thịnh Medic và Quầy thuốc số 39 thu tiền về công ty. Nhưng khi Phúc nhận số thuốc trên, Châu đã đề cập với Phúc để Châu đi giao cho 02 đơn vị trên, sau đó Châu tự ý mang số thuốc trên bán cho Nhà thuốc Anh Trang để lấy số tiền 141.034.529 đồng sử dụng riêng.

Kết luận định giá xác định số thuốc Công ty Cổ phần dược phẩm Boston Việt Nam đã xuất giao theo đơn hàng có trị giá 159.102.600 đồng. Do đó, Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử bị cáo Lê Minh Châu về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo vệ, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý; bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và sẽ bị nghiêm trị nhưng vì động cơ tư lợi mà bị cáo đã cố ý thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo với nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt: Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không có cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới; mức hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù mà Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, không nặng. Do đó, kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt là không có cơ sở chấp nhận.

[5] Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Minh Châu; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 91/2025/HS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh;

1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Minh Châu 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 8 năm 2025.

2. Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Lê Minh Châu phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh (03);
  • - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Phòng PV06 – Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo;
  • - Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP, 16, (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Văn Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 690/2025/HS-PT ngày 12/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 690/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Minh Ch - tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger