Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 690/2024/DS-ST

Ngày: 27-9-2024.

V/v: Tranh chấp về hợp đồng

tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đình Rành;
  2. Bà Hồ Thị Lệ Thu.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh– Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7 – Tp ..

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Tp . HCM tham gia phiên tòa:

Bà Võ Thị Ngọc Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 69/2024/TLST-DS ngày 29 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 443/2024/QĐXXST-DS ngày 26/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 608/2024/QÐST-DS ngày 11/9/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng N (A).

Địa chỉ trụ sở: B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng:

Ông Đinh Quang V, sinh năm 1980.

Là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 269/NHNoCN7-TH ngày 13/5/2024)

Bị đơn: Bà Ngô Thị H, sinh năm 1986.

Địa chỉ thường trú: 525/29/6/5 Lê Văn L, tổ D, khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi ở hiện tại: G N, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông V có mặt, bà H vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Ngày 29/9/2022, giữa bà Ngô Thị H và Ngân hàng N (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) ký kết Hợp đồng tín dụng số 6170-LAV-202200467, theo đó: Ngân hàng cho bà H vay với số tiền 1.400.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm triệu đồng), mục đích vay để nuôi tôm; Thời hạn cho vay là 12 tháng kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày đầu tiên giải ngân; Lãi suất cho vay áp dụng mức lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng là 9%/năm, lãi suất cho vay được điều chỉnh theo thông báo của Ngân hàng N Chi nhánh 7 áp dụng tại từng thời điểm. Lãi suất quá hạn tối đa bằng 150% so với lãi suất vay đã thỏa thuận, lãi suất chậm trả: 0%/năm; Kỳ hạn trả nợ lãi: 06 tháng 1 lần vào ngày 29, kỳ hạn trả nợ gốc: cuối kỳ vào ngày 29/09/2023.

Thực hiện Hợp đồng trên, Ngân hàng đã giải ngân cho bà Ngô Thị Hằng S tiền 1.400.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm triệu đồng) vào ngày 29/09/2022. Theo quy định tại Điều 5 của Hợp đồng tín dụng thì thời hạn tất toán hợp đồng xác định vào ngày 29/09/2023.

Khoản vay được bảo đảm bằng tài sản là căn hộ số 4.02 Chung cư N, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, diện tích 61,3m; thuộc thửa 1-552; tờ bản đồ số: Hộ 2 tờ 1 (CL-ĐK) theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 21423/2002 do Ủy ban nhân dân Quận E cấp ngày 25/11/2002 và cập nhật biến động ngày 05/01/2018 cho bà Ngô Thị H.

Thủ tục đảm bảo được thực hiện bằng Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số 6170-LCL-201900246/HĐTC ngày 18/06/2019 được Văn phòng C chứng thực ngày 18/06/2019, số công chứng 00002151, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD. Biện pháp bảo đảm đã được đăng ký tại Chi nhánh Văn phòng Đ, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 18/06/2019.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà H đã vi phạm về nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi kể từ ngày 29/09/2023 đến nay. Hiện tại khoản vay của bà H đã chuyển sang nợ quá hạn, Ngân hàng đã nhiều lần có văn bản yêu cầu bà H thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng bà H không phối hợp xử lý tài sản bảo đảm làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng, gây khó khăn cho công tác thu hồi vốn của Nhà nước và quá trình xử lý, thu hồi nợ của Ngân hàng.

Tại Đơn khởi kiện ngày 21/11/2023, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Buộc bà Ngô Thị H thanh toán một lần toàn bộ khoản tiền nợ gốc và lãi của Hợp đồng tín dụng số 6170-LAV-202200467 ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, số tiền cụ thể như sau: Nợ gốc: 1.400.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ bốn trăm triệu đồng); Nợ lãi tạm tính đến hết ngày 30/10/2023: 85.944.444 đồng.Tổng cộng: 1.485.944.444 đồng ( Bằng chữ: Một tỷ bốn trăm tám mươi lăm triệu chín trăm bốn mươi bốn ngàn bốn trăm bốn mươi bốn đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án ra bản án, bà Ngô Thị H phải tiếp tục trả nợ lãi phát sinh đến ngày thanh toán hết nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 6170-LAV-202200467. Trường hợp bà Ngô Thị H không thanh toán đủ khoản nợ gốc và lãi nêu trên, Ngân hàng N có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi các tài sản thế chấp tại Hợp đồng thế chấp số 6170-LCL-201900246/HĐTC để thu hồi nợ ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả số nợ trên thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Ngô Thị H để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 7 buộc bà Ngô Thị H phải trả số tiền còn nợ lại tính đến ngày 27/9/2024 là 1.658.204.110 đồng, bao gồm: Dư nợ gốc 1.400.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn 67.046.575 đồng; tiền lãi quá hạn 191.157.534 đồng Các yêu cầu khác vẫn giữ nguyên theo Đơn khởi kiện.

Bị đơn là bà Ngô Thị H đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ, tiến hành các thủ tục tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý; Giấy triệu tập tham gia về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hòa giải; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 443/2024/QĐXXST-DS ngày 26/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 608/2024/QÐST-DS ngày 11/9/2024 nhưng bà H vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 phát biểu ý kiến:

  1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng
    • Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán
    • Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý được quy định tại các điều từ Điều 26 đến Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự; Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự; Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các điều từ Điều 93 đến Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho các đương sự đúng quy định tại Điều 195, Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự.

    • Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa.
    • Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng các quy định chung về phiên tòa sơ thẩm, thủ tục bắt đầu phiên tòa, đảm bảo việc tranh tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

    • Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng
    • Nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

      Bị đơn vi phạm quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70; 72 Bộ Luật tố tụng dân sự.

  2. Về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của nguyên đơn, xét có đủ căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng.

Án phí và lệ phí xem xét thẩm định tại chổ bị đơn nộp theo quy định.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, đại diện ủy quyền của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
  2. Căn cứ vào đơn khởi kiện và yêu cầu của nguyên đơn là Ngân hàng về việc buộc bị đơn là bà Ngô Thị H phải trả số tiền còn nợ lại theo Hợp đồng tín dụng số 6170-LAV-202200467 ngày 29/9/2022 thì đây là tranh chấp về “Hợp đồng tín dụng”. Tại khoản 5 Điều 9 của Hợp đồng tín dụng số 6170-LAV-202200467 ngày 29/9/2022 các bên thỏa thuận: “Giải quyết tranh chấp: Hai bên cam kết thực hiện đúng các điều khoản của Hợp đồng này. Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến Hợp đồng này được giải quyết trên cơ sở thương lượng. Trường hợp không thương lượng được, các Bên thống nhất giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân cấp có thẩm quyền tại nơi đóng trụ sở của Ngân hàng là Chi nhánh 7”. Căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động của chi nhánh có mã số chi nhánh 0100686174-080 thì Ngân hàng N – Chi nhánh G có địa chỉ tại 4 N, khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7 theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng năm 2015.

  3. Về hình thức:
  4. Bị đơn là bà Ngô Thị H mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ để cung cấp chứng cứ, tham gia phiên họp để kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

  5. Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
  6. Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 6170-LAV-202200467 ngày 29/9/2022, Phụ lục Hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ, đã có đủ cơ sở để kết luận Ngân hàng cho bà Ngô Thị H vay số tiền 1.400.000.000 đồng, mục đích sử dụng vốn vay là để bổ sung vốn nuôi tôm, lãi suất trong hạn 9%//năm, thời hạn vay 12 tháng.

    Căn cứ vào bản tóm tắt sao kê chi tiết của Ngân hàng xác định bà Ngô Thị H còn nợ lại Ngân hàng tính đến ngày 27/9/2024 là 1.658.204.110 đồng, bao gồm: Dư nợ gốc là 1.400.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn 67.046.575 đồng; tiền lãi quá hạn 191.157.534 đồng.

    Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bà Ngô Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa để giải quyết, không cung cấp chứng cứ, vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tại phiên tòa hôm nay nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì trình bày của nguyên đơn được chấp nhận mà không cần phải chứng minh do bị đơn đã không đưa ra chứng cứ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là Ngân hàng về việc buộc bị đơn là bà Ngô Thị H có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng tính đến ngày 27/9/2024 là 1.658.204.110 đồng, bao gồm: Dư nợ gốc là 1.400.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn 67.046.575 đồng; tiền lãi quá hạn 191.157.534 đồng.

    Căn cứ vào Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì kể từ ngày 28/9/2024, bà Ngô Thị H còn phải thanh toán cho Ngân hàng tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn theo Hợp đồng tín dụng số 6170-LAV-202200467 ngày 29/9/2022 cho đến khi thanh toán hết nợ.

    [3.2] Về yêu cầu phát mãi tài sản chế chấp:

    Căn cứ vào Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số 6170-LCL-201900246/HĐTC ngày 18/6/2019; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở số 21423/2002 do Ủy ban nhân dân Quận 5 Thành phố E cấp ngày 25/11/2002; Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 18/6/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H – Chi nhánh Q đủ cơ sở xác định: Tài sản để đảm bảo cho khoản vay trên là quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở số 21423/2002 do Ủy ban nhân dân Quận 5 Thành phố E cấp ngày 25/11/2002 cập nhật biến động ngày 05/01/2008 cho bà Ngô Thị H để thế chấp cho khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 6170-LAV-202200467 ngày 29/9/2022.

    Căn cứ vào Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 09/8/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh và Kết quả xác minh của Công an P1, Quận E: “Tại địa chỉ: 4 chung cư N, Phường A, Quận E hiện không có người tên Ngô Thị H sinh năm 1986 hộ khẩu thường trú tại 525/29/6/5 L, phường T, Quận G thực tế cư trú”.

    Căn cứ vào các Điều 317, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 293, Điều 294, Điều 298, Điều 299, Điều 303 Bộ luật Dân sự 2015: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về việc phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số 6170-LCL-201900246/HĐTC ngày 18/6/2019 trong trường hợp bà Ngô Thị H không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền còn nợ lại thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp trên để thu hồi toàn bộ dư nợ. Trong trường hợp số tiền do phát mãi tài sản thế chấp còn dư thì trả lại cho bà Ngô Thị H nhưng nếu số tiền phát mãi không đủ để thanh toán nợ cho Ngân hàng thì bà Ngô Thị H còn phải tiếp tục trả số tiền còn nợ lại. Trong trường hợp, bà Ngô Thị H đã trả hết khoản nợ trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng sẽ trả lại cho bà Ngô Thị H toàn bộ bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở số 21423/2002 do Ủy ban nhân dân Quận 5 Thành phố E cấp ngày 25/11/2002.

    [4]. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và tiền án phí: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên bà Ngô Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định.

    Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 40, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ vào Điều 463, Điều 317, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 293, Điều 294, Điều 298, Điều 299, Điều 303 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ vào Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • Căn cứ Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N1 hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận;
  • Căn cứ khoản 2 Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc ngân hàng N1 được sửa đổi bổ sung bằng Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005.
  • Căn cứ Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
  • Căn cứ Luật phí, lệ phí Tòa án và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.

Xử:

  1. Về hình thức: Xét xử vắng bị đơn bà Ngô Thị H.
  2. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N.
  3. Buộc bà Ngô Thị H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N số tiền nợ tính đến ngày 27/9/2024 là 1.658.204.110 đồng, bao gồm: Dư nợ gốc là 1.400.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn 67.046.575 đồng; tiền lãi quá hạn 191.157.534 đồng.

    Ngoài ra, kể từ ngày 28/9/2024, bà Ngô Thị H còn phải trả cho Ngân hàng N tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 6170-LAV-202200467 ngày 29/9/2022 cho đến khi thanh toán hết nợ còn nợ lại.

    - Ngay sau khi bà Ngô Thị H thanh toán hết nợ theo Hợp đồng tín dụng số 6170-LAV-202200467 ngày 29/9/2022 thì Ngân hàng N có trách nhiệm tiến hành làm thủ tục giải chấp và hoàn trả lại cho bà Ngô Thị H bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở số 21423/2002 do Ủy ban nhân dân Quận 5 Thành phố E cấp ngày 25/11/2002.

    - Trong trường hợp bà Ngô Thị H không thanh toán hoặc thanh toán nợ không đầy đủ khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng số 6170-LAV-202200467 ngày 29/9/2022 thì Ngân hàng N được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản đã thế chấp tài sản theo Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số 6170-LCL-201900246/HĐTC ngày 18/6/2019 để thu hồi nợ.

    - Trong trường hợp số tiền phát mãi tài sản thế chấp còn dư thì trả lại cho bà Ngô Thị H nhưng nếu số tiền phát mãi không đủ để thanh toán nợ cho Ngân hàng N thì bà Ngô Thị H còn phải tiếp tục trả số tiền còn nợ lại.

  4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
  5. Bà Ngô Thị H phải trả cho Ngân hàng N tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 6.000.000 đồng theo Phiếu thu số 125 ngày 05/7/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

  6. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  7. - Bà Ngô Thị H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 61.746.123 đồng.

    - Ngân hàng N không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. H1 lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 28.289.167 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0037997 ngày 29/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh cho Ngân hàng N.

  8. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
  9. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày từ ngày tống đạt hợp lệ bản sao bản án hoặc được niêm yết hợp lệ tại địa phương.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Ngọc P

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 690/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 690/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger