TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31-7-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Kiều Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thắm;
- Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Phương – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 403/2024/TLST-HNGĐ ngày 23/4/2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 75/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09/7/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Cù Phước T, sinh năm 1986; địa chỉ thường trú: Tổ X1, NTĐ, khóm LT, phường LH, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang; địa chỉ tạm trú: Nhà trọ M, khu phố X2, phường TĐ, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt theo Đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1990; địa chỉ thường trú: Ấp TĐ, xã MP, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang; địa chỉ tạm trú: Nhà trọ NVM, khu phố X2, phường TĐ, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện nay: Nhà trọ Nguyễn Văn D, khu phố X2, phường TĐ, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện đề ngày 19/4/2024 và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn ông Cù Phước T trình bày:
Ông Cù Phước T và bà Nguyễn Thị B chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường LH, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 43 ngày 07/7/2014. Hôn nhân giữa ông T và bà B hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian, đến tháng 4/2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình vợ chồng không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung trong sinh hoạt hàng ngày. Gia đình hai bên nhiều lần tổ chức hòa giải đoàn tụ nhưng không đạt được kết quả. Vợ chồng không còn chung sống với nhau và đã ly thân từ khoảng tháng 11/2022 cho đến nay. Nhận thấy cuộc hôn nhân của vợ chồng không còn tồn tại và mục đích hôn nhân không đạt được nên ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông T được ly hôn với bà B.
Về con chung: Quá trình sống chung, ông T và bà B có 01 người con chung tên: Cù PN, sinh ngày 21/4/2015. Ông Cù Phước T đồng ý để bà Nguyễn Thị B được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu PN mỗi tháng 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) cho đến khi cháu PN đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Những chứng cứ, tài liệu nguyên đơn đã cung cấp: Căn cước công dân mang tên Cù Phước T và Nguyễn Thị B (bản sao); Thông báo kết quả giải quyết, huỷ bỏ đăng ký cư trú (bản sao); Giấy khai sinh (bản sao); Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao); Đơn đề nghị không tiến hành hòa giải theo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án (bản chính).
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị B. Bà B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, thông báo thời gian mở phiên tòa và giấy triệu tập hợp lệ. Tuy nhiên, bà B không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, vắng mặt không có lý do. Bà B không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của ông T và không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên toà.
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi mở phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật và có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử, nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do là không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.
- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn và yêu cầu nuôi con chung với bị đơn nên quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có đăng ký địa chỉ tạm trú và hiện vẫn đang sinh sống tại khu phố X2, phường TĐ, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
[1.3] Về việc có mặt, vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn ông T và bị đơn bà B trên cơ sở tự nguyện đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường LH, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 43 ngày 07/7/2014. Như vậy, hôn nhân giữa nguyên đơn ông T và bị đơn bà B là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình tố tụng nguyên đơn xác định từ đầu tháng 4/2021 giữa nguyên đơn và bị đơn đã phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, không thể hàn gắn được. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi vã và đã sống ly thân với nhau từ tháng 11/2022 đến nay. Hiện tại, ông T xác định tình cảm giữa hai vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với bà B. Bị đơn bà B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn không còn hạnh phúc. Nguyên đơn xác định vợ chồng đã ly thân từ tháng 11/2022 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, nguyên đơn xác định không còn tình cảm với bị đơn. Bị đơn không tham gia tố tụng và không có văn bản trình bày ý kiến. Cho thấy bị đơn không có thiện chí hoà giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng, không còn quan tâm đến hạnh phúc gia đình. Mặt khác, tại Biên bản xác minh ngày 14/5/2024 tại địa phương nơi ông T và bà B sinh sống cho biết quá trình sống chung ông T và bà B có phát sinh mâu thuẫn hay nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là gì, chính quyền địa phương không rõ, nhưng hiện tại ông T và bà B không còn sống chung với nhau, bà B và cháu PN đã chuyển sang nhà trọ khác sinh sống nhưng vẫn thuộc khu phố X2, phường TĐ, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa nguyên đơn và bị đơn có 01 con chung tên: Cù PN, sinh ngày 21/4/2015. Nguyên đơn đồng ý để bà B được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của nguyên đơn. Mặt khác, cháu PN có nguyện vọng được ở với bà B. Từ thời điểm ông T và bà B sống ly thân cho đến nay, cháu PN cũng đang sống chung với bà B, cuộc sống đang ổn định, sự phát triển của cháu PN đang bình thường nên không cần phải thay đổi môi trường sống của cháu PN. Do đó, việc giao cháu Cù PN, sinh ngày 21/4/2015 cho bà B tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Cù Phước T đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu Cù PN, sinh ngày 21/4/2015 mỗi tháng 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) cho đến khi cháu PN đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn ông T không có tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[3] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên có căn cứ chấp nhận.
[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
***
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Cù Phước T về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn bà Nguyễn Thị B.
- Về hôn nhân: Ông Cù Phước T được ly hôn với bà Nguyễn Thị B.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 43 do Ủy ban nhân dân phường LH, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang cấp ngày 07/7/2014 cho ông Cù Phước T và bà Nguyễn Thị B không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Giao 01 con chung là cháu Cù PN, sinh ngày 21/4/2015 cho bà Nguyễn Thị B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
Ông Cù Phước T có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở ông Cù Phước T thực hiện các quyền, nghĩa vụ này. Khi cần thiết, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ông Cù Phước T phải cấp dưỡng nuôi cháu Cù PN, sinh ngày 21/4/2015 mỗi tháng 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Thời gian bắt đầu cấp dưỡng kể từ ngày Bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu PN đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Nguyễn Thị B cho đến khi thi hành án xong, ông Cù Phước T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
2. Về án phí: Ông Cù Phước T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu: BLTU/24 số 0001026 ngày 19/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố) Bến Cát. Ông Cù Phước T còn phải nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kiều Oanh |
Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Cù Phước T về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn bà Nguyễn Thị B. - Về hôn nhân: Ông Cù Phước T được ly hôn với bà Nguyễn Thị B. Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 43 do Ủy ban nhân dân phường LH, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang cấp ngày 07/7/2014 cho ông Cù Phước T và bà Nguyễn Thị B không còn giá trị pháp lý. - Về con chung: Giao 01 con chung là cháu Cù PN, sinh ngày 21/4/2015 cho bà Nguyễn Thị B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông Cù Phước T có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở ông Cù Phước T thực hiện các quyền, nghĩa vụ này. Khi cần thiết, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. - Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ông Cù Phước T phải cấp dưỡng nuôi cháu Cù PN, sinh ngày 21/4/2015 mỗi tháng 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Thời gian bắt đầu cấp dưỡng kể từ ngày Bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu PN đủ 18 tuổi.
