|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 9 - 2024
“V/v tranh chấp ly hôn, con
chung, tài sản chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - THÀNH PHÓ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hai
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Trình
- Ông Trần Đức Hiếu
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dự - Thư ký Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thu Sương - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 71/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, con chung, tài sản chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 222/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 195/2024/QĐ-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1986
- Bị đơn: Ông Phan Hữu M, sinh năm 1979
Địa chỉ: Tổ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt tại phiên tòa)
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hồng P, sinh năm 1998
Địa chỉ: Số A đường C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Quảng Nam. (Có mặt tại phiên tòa)
Địa chỉ: Kiệt A đường Ô, Tổ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 02 năm 2024; bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phan Hữu M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 39, quyển số 01/2007 ngày 16 tháng 5 năm 2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà sống chung tại địa chỉ: Tổ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống thời gian đầu sống hạnh phúc, nhưng đến giữa năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông M thường xuyên rượu chè, chửi bới, đánh đập bà, không chăm lo cho cuộc sống gia đình. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, mâu thuẫn vợ chồng đã đến lúc trầm trọng nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn ông M.
- Về quan hệ con chung: Bà L xác nhận vợ chồng có 02 người con chung: Phan Hữu H, sinh ngày 28 tháng 12 năm 2007 và Phan Hữu Q, sinh ngày 03 tháng 8 năm 2016. Sau ly hôn, bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi 02 con 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng)/01 tháng cho đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung: Vợ chồng tạo lập được khối tài sản chung là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1058, tờ bản đồ số 7, diện tích 101,7m², mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị, địa chỉ tại: Tổ C (tổ C cũ), phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 203423 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố Đ cấp ngày 10 tháng 10 năm 2012.
Giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất khoảng 720.000.000 đồng (B trăm hai mươi triệu đồng). Khi giải quyết chia tài sản chung này, bà có nguyện vọng nhận nhà đất và thối trả giá trị chênh lệch cho ông M.
- Về nợ chung: Bà xác định không có.
* Bị đơn ông Phan Hữu M trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông M thống nhất với lời trình bày của bà L về thời gian và điều kiện kết hôn là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại tổ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống thì phát sinh nhiều mẫu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, hiện ông và bà L đã ly thân từ tháng 06 năm 2023 đến nay. Nay bà L yêu cầu ly hôn, ông đồng ý vì vợ chồng ông cũng xa cách với nhau gần một năm nay, tình cảm vợ chồng không còn.
- Về quan hệ con chung: Ông xác nhận vợ chồng có 02 con chung như bà L trình bày là đúng. Ông đề nghị vợ nuôi con nhỏ, ông nuôi con lớn, ông tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng/ tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
- Về quan hệ tài sản chung: Ông M đề nghị tài sản chung tự thỏa thuận và không phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nguồn gốc của nhà và đất tổ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng ông trình bày như sau:Nguyên thửa đất này là của cha mẹ ông cho ông vào năm 2007, sau đó đến năm 2008 vợ chồng ông xây dựng nhà trên đất, đến năm 2012 ông mới làm sổ đứng tên ông.
- Về nợ chung: Ông Minh xác N không có.
* Tại biên bản hòa giải ngày 25 tháng 4 năm 2024 bà Nguyễn Thị Thùy L trình bày:
Bà đồng ý về thỏa thuận nuôi con chung, đồng ý giao con lớn Phan Hữu H, sinh ngày 28 tháng 12 năm 2007 cho chồng bà nuôi và bà trực tiếp nuôi con Phan Hữu Q, sinh ngày 03 tháng 8 năm 2016, ông Phan Hữu M cấp dưỡng nuôi con Phan Hữu Q mỗi tháng 2.000.000 đồng/ tháng.
Về tài sản chung: Bà đề nghị Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng để bà có chỗ ở ổn định nuôi con.
* Đến ngày 20 tháng 9 năm 2024, bà Nguyễn Thị Thùy L có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu chia tài sản chung đối với quyền sử dụng đất thửa đất số 1058, tờ bản đồ số 7, diện tích 101,7m², mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị, địa chỉ tại: Tổ C (tổ C cũ), phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 203423 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố Đ cấp ngày 10 tháng 10 năm 2012 cấp cho ông Phan Hữu M và chỉ yêu cầu chia tài sản chung đối với ngôi nhà tọa lạc trên thửa đất nêu trên, bà thống nhất giao nhà cho ông M được quản lý sử dụng và thối trả cho bà giá trị ½ ngôi nhà nêu trên theo kết quả thẩm định giá tài sản do Tòa án tiến hành.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự quy định của pháp luật. Đối với các đương sự: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết vụ án:
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thùy L đối với yêu cầu chia tài sản chung quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1058, tờ bản đồ số 7, diện tích 101,7m², mục đích sử
dụng: Đất ở tại đô thị, địa chỉ tại: Tổ C (tổ C cũ), phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 203423 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố Đ cấp ngày 10 tháng 10 năm 2012 cấp cho ông Phan Hữu M.
Đề nghị HĐXX căn cứ:
- Căn cứ Điều 147; khoản 1 Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, 59, 62, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Thùy L được ly hôn ông Phan Hữu M.
Về con chung: Giao con chung Phan Hữu H, sinh ngày 28 tháng 12 năm 2007 cho ông Phan Hữu M trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Phan Hữu Q, sinh ngày 03 tháng 8 năm 2016 cho bà Nguyễn Thị Thùy L trực tiếp nuôi dưỡng, buộc ông Phan Hữu M cấp dưỡng nuôi con Phan Hữu Q mỗi tháng 2.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thùy L về việc chia tài sản chung là ngôi nhà trên thửa đất số 1058, tờ bản đồ số 7, diện tích 101,7m², mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị, địa chỉ tại: Tổ C (tổ C cũ), phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 203423 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố Đ cấp ngày 10 tháng 10 năm 2012 cấp cho ông Phan Hữu M. Theo đó, bà Nguyễn Thị Thùy L, ông Phan Hữu M mỗi người được nhận ½ giá trị ngôi nhà có diện tích 81,7m² theo kết luận của chứng thư thẩm định giá là 124.510.800 đồng/2: 62.255.400 đồng. Hiện ông Phan Hữu M đang quản lý sử dụng ngôi nhà nên cần giao cho ông M tiếp tục quản lý, sở hữu, ông M thối trả cho bà L ½ giá trị ngôi nhà là 62.255.400 đồng.
Về nợ chung: Ông M, bà L cùng xác nhận không có nên không đề cập giải quyết.
Về án phí, chi phí tố tụng: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy L khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn ông Phan Hữu M có địa chỉ cư trú tại Kiệt A đường Ô, Tổ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
[2] Bị đơn ông Phan Hữu M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do vậy, căn cứ Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt bị đơn ông Phan Hữu M.
[3] Tại đơn yêu cầu rút một phần khởi kiện ngày 20/9/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy L rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu chia tài sản chung là thửa đất số 1058, tờ bản đồ số 7, diện tích 101,7m², mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị, địa chỉ tại: Tổ C (tổ C cũ), phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 203423 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố Đ cấp ngày 10 tháng 10 năm 2012 cấp cho ông Phan Hữu M. Xét việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của bà L là tự nguyện, không trái đạo đức, xã hội và phù hợp của quy định nên HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của bà L về việc chia tài sản chung của vợ chồng đối với thửa đất nên trên.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân:
[4] Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Thùy L yêu cầu giải quyết cho bà được ly hôn ông Phan Hữu M. Xét thấy: Qua lời khai của bà L cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bà Nguyễn Thị Thùy L và ông Phan Hữu M thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên có lời qua tiếng lại, vợ chồng sống không hạnh phúc. Tại phiên hòa giải ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại Tòa án, bị đơn ông Phan Hữu Minh xác Đ vợ chồng ông có mâu thuẫn, hiện vợ chồng ông đã sống ly thân từ tháng 06 năm 2023 đến nay. Tại phiên hòa giải, ông M cũng đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị Thùy L. Xét mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa bà L và ông M đã thật sự trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, không còn cuộc sống chung thực tế giữa vợ chồng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho bà Nguyễn Thị Thùy L được ly hôn ông Phan Hữu M là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về con chung:
[5] Bà L và ông M có 02 con chung tên Phan Hữu H, sinh ngày 28 tháng 12 năm 2007 và Phan Hữu Q, sinh ngày 03 tháng 8 năm 2016. Quá trình giải quyết vụ án, ông M và bà L đã thống nhất với nhau về việc nuôi con chung. Cụ thể, bà L và ông M cùng thống nhất giao con Phan Hữu H cho ông Phan Hữu M trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Phan Hữu Q cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
[6] HĐXX xét thấy, việc giao con chung cho ai chăm sóc, nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, để con phát triển toàn diện về mặt thể chất và tinh thần. Hiện cháu Phan Hữu H đang sống cùng ông Phan Hữu M, cháu Phan Hữu Q đang sống cùng bà L. Tại phiên hòa giải ngày 25 tháng 4 năm 2024, bà L và ông M cũng đã thống nhất về việc nuôi con chung và cũng phù hợp với nguyện vọng của các cháu tại các bản khai gửi đến Tòa án. Do vậy, HĐXX xét thấy cần giao cháu H cho ông M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giao cháu Q cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[7] Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án, tại đơn khởi kiện bà L yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con đối với cháu Q mỗi tháng 2.000.000 đồng. Xét yêu cầu bà L thì thấy, quá trình giải quyết vụ án, ông M đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, mức cấp dưỡng do bà L cũng phù hợp với điều kiện sinh sống của cháu nên HĐXX chấp nhận, buộc ông M phải cấp dưỡng nuôi con đối với cháu Q mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi và cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Về tài sản chung:
[8] Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Thùy L yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung đối với nhà và đất tại thửa đất số 1058, tờ bản đồ số 7, diện tích 101,7m², mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị, địa chỉ tại: Tổ C (tổ C cũ), phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 203423 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố Đ cấp ngày 10 tháng 10 năm 2012 cấp cho ông Phan Hữu M. Ngày 20/9/2024 bà L có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với thửa đất nêu trên và chỉ yêu cầu chia tài sản đối với ngôi nhà tọa lạc tại thửa đất nêu trên.
[9] Xét yêu cầu khởi kiện của bà L về việc chia tài sản chung là ngôi nhà cấp 4, diện tích xây dựng 81,7m², diện tích sử dụng 81,7m², có kết cấu: Tường xây, mái tôn ngói, nền gạch hoa. Nhà đã được chỉnh lý theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 203423 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố Đ cấp ngày 10 tháng 10 năm 2012 đứng tên ông Phan Hữu M. HĐXX xét thấy, mặc dù nhà được cấp giấy chứng nhận đứng tên ông Phan Hữu M, tuy nhiên, quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, ông M xác định sau khi được ba mẹ cho đất, vợ chồng ông đã xây dựng ngôi nhà trên đất như hiện nay. Do vậy, có cơ sở khẳng định ngôi nhà tọa lạc trên thửa đất nêu trên là tài sản chung của vợ chồng ông M bà L. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của bà L về việc yêu cầu chia tài sản chung đối với ngôi nhà trên đất là có cơ sở nên HĐXX chấp nhận.
[10] Tại Chứng thư thẩm định giá số: 159/2024/193/CT.VNA của Công ty Cổ phần Đ1 xác định công trình xây dựng trên đất cụ thể là ngôi nhà cấp 4, diện tích xây dựng 81,7m², diện tích sử dụng 81,7m², có kết cấu: Tường xây, mái tôn ngói, nền gạch hoa có giá 124.510.800 đồng nên phần giá trị bà L được nhận là 124.510.800 đồng/2: 62.255.400 đồng.
[11] Về việc nhận hiện vật và thối trả: HĐXX xét thấy, hiện ông Phan Hữu M đang quản lý sử dụng ngôi nhà và được đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên cần tiếp tục giao cho ông M tiếp tục quản lý, sở hữu, ông M có nghĩa vụ thối trả cho bà L ½ giá trị ngôi nhà là 62.255.400 đồng là phù hợp.
[12] Về nợ chung: Bà L ông M cùng xác nhận vợ chồng không có nợ chung nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
[13] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí:
[14] Án phí HNGĐ sơ thẩm bà Nguyễn Thị Thùy L phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0000687 ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Bà L đã nộp đủ án phí HNGĐ sơ thẩm.
[15] Án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng ông Phan Hữu M phải chịu 300.000 đồng.
[16] Án phí dân sự sơ thẩm về việc chia tài sản chung: Ông Phan Hữu M và bà Nguyễn Thị Thùy L mỗi người phải chịu số tiền 3.112.770 đồng.
Riêng bà Nguyễn Thị Thùy L được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 9.000.000 đồng theo Biên lai thu số: 0000688 ngày 11 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Bà Nguyễn Thị Thùy L được hoàn lại số tiền 5.887.230 đồng.
[17] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản là 18.000.000 đồng. Bà L tự nguyện chịu, đã nộp và đã chi xong.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147; khoản 1 Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 246, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, 59, 62, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
I. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thùy L về việc yêu cầu chia tài sản chung đối với quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1058, tờ bản đồ số 7, diện tích 101,7m², mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị, địa chỉ tại: Tổ C (tổ C cũ), phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 203423 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố Đ cấp ngày 10 tháng 10 năm 2012 cấp cho ông Phan Hữu M.
II. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thùy L về việc tranh chấp ly hôn, con chung, tài sản chung đối với ông Phan Hữu M.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Thùy L được ly hôn ông Phan Hữu M.
- Về quan hệ con chung: Giao con chung tên Phan Hữu H, sinh ngày 28 tháng 12 năm 2007 cho ông Phan Hữu M được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi và giao con chung tên Phan Hữu Q, sinh ngày 03 tháng 8 năm 2016 cho bà Nguyễn Thị Thùy L được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ông Phan Hữu M có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung: Công nhận ngôi nhà cấp 4, diện tích xây dựng 81,7m², diện tích sử dụng 81,7m², có kết cấu: Tường xây, mái tôn ngói, nền gạch hoa và các tài sản khác tọa lạc trên thửa đất số 1058, tờ bản đồ số 7, địa chỉ tại: Tổ C (tổ C cũ), phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 203423 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố Đ cấp ngày 10 tháng 10 năm 2012 cấp cho ông Phan Hữu M tương đương số tiền 124.510.800 đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu năm trăm mười ngàn tám trăm đồng) là tài sản chung của ông Phan Hữu M và bà Nguyễn Thị Thùy L.
- 3.1. Về giao hiện vật: Giao cho ông Phan Hữu M được sở hữu ngôi nhà cấp 4 có diện tích xây dựng 81,7m², diện tích sử dụng 81,7m², có kết cấu: Tường xây, mái tôn ngói, nền gạch hoa và các tài sản khác tọa lạc trên thửa đất số 1058, tờ bản đồ số 7, địa chỉ tại: Tổ C (tổ C cũ), phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 203423 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố Đ cấp ngày 10 tháng 10 năm 2012 cấp cho ông Phan Hữu M.
- 3.2. Về nghĩa vụ thối trả: Ông Phan Hữu M phải có nghĩa vụ thối trả cho bà Nguyễn Thị Thùy L số tiền 62.255.400 đồng (Sáu mươi hai triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn bốn trăm đồng).
- Về nợ chung: Ông Phan Hữu M và bà Nguyễn Thị Thùy L không có nợ chung nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
- Về án phí:
- 5.1. Án phí HNGĐ sơ thẩm bà Nguyễn Thị Thùy L phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0000687 ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Bà L đã nộp đủ án phí HNGĐ sơ thẩm.
- 5.2. Án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng ông Phan Hữu M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng)
- 5.3. Án phí dân sự sơ thẩm về việc chia tài sản chung: Ông Phan Hữu M và bà Nguyễn Thị Thùy L mỗi người phải chịu số tiền 3.112.770 đồng. (Ba triệu một trăm mười hai ngàn bảy trăm bảy mươi đồng)
- 6. Về chi phí tố tụng khác: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản là 18.000.000 đồng. Bà L tự nguyện chịu, đã nộp và đã chi xong.
- 7. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thùy L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng ông Phan Hữu M vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
(Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: số 39, quyển số 01/2007 ngày 16 tháng 5 năm 2007 của UBND phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng)
Bên không nuôi con có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung các bên đương sự có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Riêng bà Nguyễn Thị Thùy L được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 9.000.000 đồng theo Biên lai thu số: 0000688 ngày 11 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Bà Nguyễn Thị Thùy L được hoàn lại số tiền 5.887.230 đồng. (Năm triệu tám trăm tám mươi bảy ngàn hai trăm ba mươi đồng)
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Trương Thị Hai |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - THÀNH PHÓ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, con chung, tài sản chung
- Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung, tài sản chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - THÀNH PHÓ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Thùy L yêu cầu được ly hôn ông Phan Hữu M
