TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 69/2024/DS-ST Ngày: 30 - 7 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Nghĩa.
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Bình.
- Ông Mai Thương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Văn Liên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
Trong ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 187/2024/TLST-DS, ngày 09 tháng 5 năm 2024, về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 6 năm 2024, Quyết định thay đổi Hội thẩm nhân dân số 48/2024/QĐ-TĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 118/2024/QĐST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Quang T, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị Kim M, sinh năm 1973.
Nơi cư trú: Số A, đường N, khu phố G, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
2. Bị đơn: Ông Lê Huy H, sinh năm 1974 và bà Trần Thị Kim H1, sinh năm 1972.
Nơi cư trú: Số A, đường L, khu phố G, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa, vắng mặt nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt, vắng mặt bị đơn không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Trần Quang T và bà Nguyễn Thị Kim M trình bày: Do chỗ quen biết nên vào ngày 30/7/2018, ông bà có cho ông Lê Huy H và bà Trần Thị Kim H1 vay số tiền 100.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận miệng là 1%/tháng, thời hạn vay 02 năm. Khi vay, vợ chồng ông H và bà H1 có đưa cho ông bà giữ 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 353116 đứng tên chủ sử dụng là ông Lê Huy H và bà Trần Thị Kim H1. Từ ngay vay tiền tới nay, vợ chồng ông H chỉ trả được 4.500.000 đồng tiền lãi, tiền nợ gốc thì chưa trả mặc dù ông bà đã nhiều lần yêu cầu vợ chồng ông H phải trả nợ. Vợ chồng ông H, bà H1 chỉ hứa nhưng không có thiện chí trả nợ. Ông bà yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Lê Huy H và bà Trần Thị Kim H1 phải trả cho ông bà tiền nợ vay 100.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 30/7/2018 đến nay theo lãi suất 1%/tháng sau khi đã cấn trừ 4.500.000 đồng tiền lãi đã trả.
Tòa án đã tiến hành hòa giải để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về các vấn đề có tranh chấp trong vụ án nhưng bị đơn không tham gia nên không hòa giải được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự, khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.
Về sự có mặt của các đương sự: Nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt và không có tài liệu, chứng cứ thể hiện sự vắng mặt của bị đơn là do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.
[2] Nội dung vụ án:
[2.1] Về hợp đồng vay tài sản:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp; phía bị đơn cũng không có văn bản thể hiện ý kiến phản đối đối với yêu cầu của nguyên đơn. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 30/7/2018, ông Trần Quang T và bà Nguyễn Thị Kim M có cho ông Lê Huy H và bà Trần Thị Kim H1 vay số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), lãi suất thoả thuận miệng là 1%/tháng. Từ ngày vay tới nay, bị đơn chỉ trả cho nguyên đơn được 4.500.000 đồng tiền lãi, tiền nợ vay thì chưa trả.
[2.2] Về nghĩa vụ trả nợ của bên vay:
Đây là hợp đồng vay tài sản do các bên tự nguyện ký kết, khi ký kết các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Căn cứ vào Điều 466 Bộ luật Dân sự thì bên vay phải trả cho bên cho vay tiền nợ vay và tiền lãi phát sinh.
[2.2.1] Về tiền nợ vay: Số tiền nợ vay là 100.000.000 đồng nên yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả số tiền nợ vay 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) là có căn cứ nên được chấp nhận.
[2.2.2] Về tiền lãi: Căn cứ vào hợp đồng vay tiền, đã được công chứng ngày 30/7/2018 xác định đây là hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn và có lãi quy định tại khoản 2 Điều 470 Bộ luật Dân sự.
Đối với mức lãi suất do nguyên đơn yêu cầu 1%/tháng là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên được chấp nhận. Tiền lãi trên nợ gốc được xác định như sau:
Từ ngày 30/7/2018 đến ngày 30/7/2024 là 72 tháng x 100.000.000 đồng x 1%/tháng = 72.000.000 đồng.
Số tiền lãi còn phải trả sau khi cấn trừ tiền lãi 4.500.000 đồng đã trả là 67.500.000 đồng.
[2.2.3] Tổng số tiền ông Lê Huy H và bà Trần Thị Kim H1 phải trả cho ông Trần Quang T và bà Nguyễn Thị Kim M là 167.500.000 đồng (Trong đó, tiền nợ vay là 100.000.000 đồng và tiền lãi là 67.500.000 đồng).
[3] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí DSST.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 235, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468 và khoản 2 Điều 470 Bộ luật Dân sự; điểm a khoản 2 Điều 5, điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc ông Lê Huy H và bà Trần Thị Kim H1 phải trả cho ông Trần Quang T và bà Nguyễn Thị Kim M số tiền là 167.500.000 đồng (Một trăm sáu mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng). Trong đó, tiền nợ vay là 100.000.000 đồng và tiền lãi là 67.500.000 đồng.
Kể từ ngày 31/7/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2/ Về án phí DSST:
Ông Lê Huy H và bà Trần Thị Kim H1 phải chịu 8.375.000 đồng (Tám triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí DSST, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.
Ông Trần Quang T và bà Nguyễn Thị Kim M không phải chịu án phí DSST, được hoàn trả 4.087.000 đồng (Bốn triệu không trăm tám mươi bảy nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004470 ngày 09/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh.
3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4/ Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Ngọc Nghĩa |
Bản án số 69/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 69/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Quang T "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" Nguyễn Huy H
