TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2024/DS-ST Ngày: 30-5-2024 V/v T/c hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Bảo Trâm
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Chính
Ông Hoàng Xuân Niêm
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Phượng Kiều, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Võ Hồng Quân, Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 354/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành N, sinh năm 1992, có mặt
- Địa chỉ cư trú: Khu L, khóm F, phường A, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- - Bị đơn: Ông Trần Tấn T, sinh năm 1992, vắng mặt
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn N1, vắng mặt
- Cùng địa chỉ cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 24/10/2023 và tại phiên tòa, ông Nguyễn Thành N trình bày:
Từ tháng 3/2023 đến tháng 5/2023, ông N có cho ông T mượn số tiền 80.000.000 đồng. Ông T hứa thanh toán nợ cho ông N nhưng ông T không thực hiện cam kết mà chặn tin nhắn, cuộc gọi với ông N. Sau đó, ông N có đến nhà ông T để yêu cầu thanh toán nợ thì cha ông T là ông Trần Văn N1 có hứa thanh toán nợ thay cho ông T. Tính đến tháng 8/2023, ông T và cha ông T có thanh toán cho ông N1 được 15.000.000 đồng, số tiền còn lại là 65.000.000 đồng đến nay chưa thanh toán.
Nay ông N1 yêu cầu ông T thanh toán cho ông 65.000.000 đồng. Ông không yêu cầu thanh toán lãi.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đã tuân thủ đúng theo quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Trần Tấn T thanh toán cho ông Nguyễn Thành N 65.000.000 đồng, ông N không yêu cầu tính lãi nên không xem xét. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông T phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ông Nguyễn Thành N khởi kiện yêu cầu ông Trần Tấn T thanh toán tiền vay nên đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Ông T có địa chỉ tại ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Ông Trần Tấn T, ông Trần Văn N1 được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.
[3] Theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, thể hiện vào khoảng tháng 3/2023 đến tháng 5/2023, ông T có vay của ông N1 số tiền 80.000.000 đồng, không tính lãi. Cụ thể, tại các đoạn tin nhắn giữa ông N1 và ông T có thể hiện hai bên trao đổi về việc thanh toán đối với khoản nợ này. Do đó, xác định việc ông T có vay tiền của ông N1 là có thật và hợp pháp.
[4] Tại Bản tường trình ngày 24/10/2023, ông N1 xác định ông T có vay của ông số tiền 80.000.000 đồng, đã thanh toán 15.000.000 đồng, còn lại 65.000.000 đồng. Ông N1 có cung cấp các đoạn tin nhắn giữa ông N1 với người tên “Tài 6 Tiên” và giữa ông N1 với số thuê bao 0919.507.961. Tại Công văn số 110/TTKD CM-PBHKV TBH ngày 23/4/2024, Trung tâm V xác định số thuê bao 0919.507.961 có thông tin người đăng ký là Trần Tấn T, sinh ngày 25/12/1992, địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Do đó, có cơ sở xác định người nhắn tin thoả thuận về việc thanh toán khoản nợ 65.000.000 đồng với ông N1 là ông T. Theo nội dung các tin nhắn thì đến nay ông T chưa thanh toán cho ông N1 số tiền này. Việc ông T không thanh toán nợ cho ông N1 là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông N1. Vì vậy, cần buộc ông T thanh toán cho ông N1 số tiền 65.000.000 đồng.
Ông N1 không yêu cầu thanh toán lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về lãi suất chậm thi hành án: Ông T phải chịu theo quy định pháp luật.
[6] Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Tại phiên tòa ông Nguyễn Thành N có mặt nên thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày tuyên án. Ông Trần Tấn T và ông Trần Văn N1 vắng mặt, nên thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai bản án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành N về việc yêu cầu ông Trần Tấn T thanh toán nợ vay. Buộc ông Trần Tấn T có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Thành N số tiền vay còn nợ là 65.000.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu đồng).
- Kể từ ngày ông N có đơn yêu cầu thi hành án. Trường hợp ông T chậm thanh toán khoản tiền nói trên thì ông T còn phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông T phải chịu 3.250.000 đồng (Ba triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng). Ông N được nhận lại tiền nộp tạm ứng án phí 1.625.000 đồng (Một triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015789 ngày 13/11/2023 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình phát hành.
- Ông Nguyễn Thành N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Trần Tấn T và ông Trần Văn N1 vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc được niêm yết công khai bản án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Lê Thị Bảo Trâm |
Bản án số 69/2024/DS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 69/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành N-Trần Tấn T: Vay TS
