TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2023/HS-ST Ngày: 29/11/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Thuý và bà Nguyễn Thị Lan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Khoa Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trác Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2023/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Đức A, sinh năm 1992 tại huyện B, Hải Dương. Nơi cư trú thôn H, xã N, huyện B, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T và bà Phạm Thị N; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là thứ ba; Bị cáo có vợ là Vương Thị M, có 1 con sinh năm 2014.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 23/7/2015, Công an huyện B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 83/QĐ-XPHC đối với Bùi Đức A về hành vi gây thương tích bằng hình thức phạt tiền (đã được xoá).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/9/2023 đến ngày 26/9/2023, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện G.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người làm chứng: chị Lê Thị T1, sinh năm 1999; anh Đỗ Anh T2, sinh năm 2002 (vắng mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Đức A đã từng sử dụng ma túy đá. Khoảng 15 giờ ngày 23/9/2023, Đức A điều khiển xe mô tô (xe mượn của anh T2) đi từ nhà xã N, huyện B đến khu vực xã Y, huyện G, tỉnh Hải Dương mục đích tìm mua ma túy đá để sử dụng. Trên đường đi, Đức A đến nhà chị T1 rủ đi chơi và đưa chị T1 đi khám thai. Chị T1 đồng ý và bế con gái đi cùng. Đức A điều khiển xe đến khu vực cánh đồng, gần nghĩa trang thôn T, xã Y, huyện G, tỉnh Hải Dương thì gặp người đàn ông không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ, có biểu hiện giống người nghiện, đang ngồi trên xe mô tô kiểu dáng xe Dream, đỗ ven đường. Đức A dừng xe, đi bộ quay lại hỏi: "Anh có ma túy đá bán không?”. Người đàn ông trả lời "Có, mua bao nhiêu?". Đức A nói "Em mua 300.000 đồng" và đưa tiền cho người đàn ông này, người đàn ông cầm tiền và điền khiển xe bảo Đức A đi theo sau. Đức A quay lại chỗ chị T1 đứng chờ, rồi điều khiển xe chở chị T1 và cháu bé đi theo sau người đàn ông này. Đi được 01 đoạn, người này chỉ cho Đức A 01 ngôi mộ to nhất, màu đỏ bên trong nghĩa trang là phần mộ của gia đình ông Phạm Đình L, sinh năm 1974. Đức A hiểu ý ma túy được để ở đó nên điều khiển xe đi vào khu vực bên trong nghĩa trang, rồi dừng xe, đi bộ đến ngôi mộ. Người đàn ông đi xe máy bỏ đi. Tại đây, Đức A nhìn thấy trên bề mặt ngôi mộ có 01 chiếc khẩu trang màu trắng, được cuộn lại. Đức A biết bên trong là ma tuý đá nên đã cầm chiếc khẩu trang trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ quay lại nơi dừng xe, chỗ chị T1 đang ngồi chờ. Đến khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày, khi Đức A đang đi bộ trong nghĩa trang thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang thu giữ vật chứng. Quá trình bắt giữ, có chị T1 là người chứng kiến sự việc.
Tại Kết luận giám định số 469/KL-KTHS ngày 25/9/2023 của Phòng K-Công an tỉnh H đã kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu M, gửi đến giám định khối lượng là 0,432g (Không phẩy bốn trăm ba mươi hai gam) là ma túy, loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 67/CT-VKS ngày 10/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố bị cáo Bùi Đức A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi đang cất giữ 01 gói ma túy trọng lượng 0,432 gam loại Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị bắt và khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố bị cáo là đúng, không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận giám định.
Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Đức A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Bùi Đức A 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tính từ ngày 23/9/2023; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 0,381 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định; 01 khẩu trang mầu trắng nhãn hiệu Hm, 01 vỏ túi nilon mầu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật; Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận; lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo Bùi Đức A phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: Hồi 15 giờ 20 phút ngày 23/9/2023 tại khu vực nghĩa trang T3, xã Y, huyện G, Đ có hành vi cất giấu trái phép trong long bàn tay trái 01 túi nilon mầu trắng, bên trong có chứa ma tuý loại Methamphetamine, có khối lượng 0,432 gam với mục đích để sử dụng thì bị Cơ quan Công an huyện G phát hiện và thu giữ vật chứng.
Bị cáo Đức A là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cất giấu trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố bị cáo Bùi Đức A về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm mất trật tự trị an trên địa bàn. Chất ma túy có tính chất kích thích thần kinh, có tác hại rất lớn đến sức khỏe con người cũng như sự an toàn của xã hội; là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4]. Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[5]. Về xử lý vật chứng: 0,381 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định; 01 khẩu trang mầu trắng nhãn hiệu Hm, 01 vỏ túi nilon mầu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật là vật nhà nước cấm lưu hành HĐXX tịch thu cho tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
[6] Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán ma túy cho Đức A, quá trình điều tra không xác định được tên tuổi địa chỉ nên không có căn cứ xử lý;
Đối với chị Lê Thị T1 là người đi cùng Đức A, anh Đỗ Anh T2 là người cho bị cáo mượn xe mô tô. Chị T1 không biết bị cáo tìm mua, cất giấu ma tuý. Anh Tú không biết bị sử dụng chiếc xe trên vào việc đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện G đã trả lại chiếc xe trên cho anh T2 quản lý và không đặt vấn đề xử lý đối với chị T1 và anh T2 là phù hợp.
[7] Về án phí: bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố bị cáo Bùi Đức A phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Bùi Đức A 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 23/9/2023.
Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 0,381 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định; 01 khẩu trang mầu trắng nhãn hiệu Hm; 01 vỏ túi nilon mầu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật (đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/11/2023).
Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Bùi Đức A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thắm |
Bản án số 69/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 69/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Đức Anh đã từng sử dụng ma túy đá. Khoảng 15 giờ ngày 23/9/2023, Đức Anh điều khiển xe mô tô (xe mượn của anh Tú) đi từ nhà xã Nhân Quyền, huyện Bình Giang đến khu vực xã Yết Kiêu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương mục đích tìm mua ma túy đá để sử dụng. Trên đường đi, Đức Anh đến nhà chị Thảo rủ đi chơi và đưa chị Thảo đi khám thai. Chị Thảo đồng ý và bế con gái đi cùng. Đức Anh điều khiển xe đến khu vực cánh đồng, gần nghĩa trang thôn Thượng Bì 2, xã Yết Kiêu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương thì gặp người đàn ông không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ, có biểu hiện giống người nghiện, đang ngồi trên xe mô tô kiểu dáng xe Dream, đỗ ven đường. Đức Anh dừng xe, đi bộ quay lại hỏi: "Anh có ma túy đá bán không?". Người đàn ông trả lời "Có, mua bao nhiêu?". Đức Anh nói "Em mua 300.000 đồng" và đưa tiền cho người đàn ông này, người đàn ông cầm tiền và điền khiển xe bảo Đức Anh đi theo sau. Đức Anh quay lại chỗ chị Thảo đứng chờ, rồi điều khiển xe chở chị Thảo và cháu bé đi theo sau người đàn ông này. Đi được 01 đoạn, người này chỉ cho Đức Anh 01 ngôi mộ to nhất, màu đỏ bên trong nghĩa trang là phần mộ của gia đình ông Phạm Đình Lời, sinh năm 1974. Đức Anh hiểu ý ma túy được để ở đó nên điều khiển xe đi vào khu vực bên trong nghĩa trang, rồi dừng xe, đi bộ đến ngôi mộ. Người đàn ông đi xe máy bỏ đi. Tại đây, Đức Anh nhìn thấy trên bề mặt ngôi mộ có 01 chiếc khẩu trang màu trắng, được cuộn lại. Đức Anh biết bên trong là ma tuý đá nên đã cầm chiếc khẩu trang trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ quay lại nơi dừng xe, chỗ chị Thảo đang ngồi chờ
