Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29/5/2024

Về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tô Văn Nhung;
  2. Bà Bùi Thị Thúy Lan.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 74/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2024/QĐST – HNGĐ ngày 13/5/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hà Phong G, sinh năm 1969. Thường trú: Số 1A/14, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; tạm trú: Số 16 đường C khu nhà ở Đông Á - 2B Trần Thị V, khu phố B, phường A, D, Bình Dương.

- Bị đơn: Ông Đỗ Hùng C, sinh năm 1970; Thường trú: Số 139/43/7 đường 9, khu phố 5, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Số 16 đường C khu nhà ở Đông Á - 2B Trần Thị V, khu phố B, phường A, D, Bình Dương.

Bà Nguyễn Hà Phong G có yêu cầu giải quyết vắng mặt, ông Đỗ Hùng C vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 21/02/2024, các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Hà Phong G trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Hà Phong G và ông Đỗ Hùng C sau thời gian tìm hiểu thì tự nguyện về sống chung với nhau, có tổ chức đám cưới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Bình, huyện Thuận An, tỉnh Sông Bé (nay là phường An Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương) theo giấy đăng ký kết hôn số 125, ngày 23/12/1991. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung tại thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương cho đến nay. Cuộc sống hạnh phúc được khoảng thời gian đầu, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên không thường xuyên nói chuyện hay chia sẻ với nhau. Mỗi khi vợ chồng nói chuyện do không hợp nên dẫn đến cãi vã, ông C thường bạo hành bà G. Vì vậy, cuộc sống gia đình trở nên ngột ngạt, căng thẳng, gây mệt mỏi cho nhau. Vì lo cho các con nên bà G chịu đựng để sống chung với ông C, tuy nhiên vợ chồng sống ly thân về mặt tình cảm trong thời gian dài. Nay bà G xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà G được ly hôn với ông Đỗ Hùng C.

-Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 04 con chung tên Đỗ Nguyễn Trúc P, sinh ngày 01/8/1992, Đỗ Nguyễn Trúc U, sinh ngày 24/7/1994, Đỗ Minh K, sinh ngày 08/6/2000 và con Đỗ Minh P, sinh ngày 20/6/2010. Sau khi ly hôn bà G yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đỗ Minh P, không yêu cầu ông Đỗ Hùng C thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Đỗ Nguyễn Trúc P, sinh ngày 01/8/1992, Đỗ Nguyễn Trúc U, sinh ngày 24/7/1994, Đỗ Minh K, sinh ngày 08/6/2000 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

-Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn ông Đỗ Hùng C:

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án và yêu cầu ông Đỗ Hùng C có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu của bà Nguyễn Hà Phong G nhưng ông C không có ý kiến gì. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Đỗ Hùng C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 25/04/2024 nhưng ông C vắng mặt không có lý do; đồng thời cũng không có ý kiến và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì thể hiện việc đồng ý hay không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của bà G.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Căn cứ vào Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định. Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có

căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hà Phong G.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về điều kiện thụ lý vụ án: Căn cứ vào đơn khởi kiện của bà Nguyễn Hà Phong G thì đây là vụ án tranh chấp ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn là ông Đỗ Hùng C có địa chỉ tại Số 16 đường C khu nhà ở Đông Á - 2B Trần Thị V, khu phố B, phường A, D, Bình Dương nên Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An thụ lý giải quyết theo quy định tại Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Hà Phong G và ông Đỗ Hùng C là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Bình, huyện Thuận An, tỉnh Sông Bé (nay là phường An Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương) theo giấy đăng ký kết hôn số 125, ngày 23/12/1991 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.

[3] Bà Nguyễn Hà Phong G xác định sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Vì vậy, thường xuyên cãi vã nên cuộc sống trở nên ngột ngạt, căng thẳng, gây mệt mỏi cho nhau. Tình cảm lạnh nhạt, không chia sẻ, đồng cảm với nhau các vấn đề trong cuộc sống. Vợ chồng đã sống ly thân về mặt tình cảm nhiều năm nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà Nguyễn Hà Phong G yêu cầu được ly hôn với ông Đỗ Hùng C. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và triệu tập ông Đỗ Hùng C đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông Đỗ Hùng C không có mặt. Điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng của bà Nguyễn Hà Phong G và ông Đỗ Hùng C đã thực sự không còn và cả hai bên đều không muốn hàn gắn.

Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó, vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt.

Việc ông Đỗ Hùng C bỏ mặc không quan tâm đến hòa giải đoàn tụ để hàn gắn quan hệ hôn nhân với bà Nguyễn Hà Phong G cho thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng bà Nguyễn Hà Phong G và ông Đỗ Hùng C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu được ly hôn của bà Nguyễn Hà Phong G.

[4] Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 04 con chung tên Đỗ Nguyễn Trúc P, sinh ngày 01/8/1992, Đỗ Nguyễn Trúc U, sinh ngày 24/7/1994, Đỗ Minh K, sinh ngày 08/6/2000 và con Đỗ Minh P, sinh ngày 20/6/2010. Bà Nguyễn Hà Phong G yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đỗ Minh P, đối với con chung Đỗ Nguyễn Trúc P, Đỗ Nguyễn Trúc U, Đỗ Minh K đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét về mọi mặt và quyền lợi của con chưa

thành niên. Quá trình tố tụng, ông Đỗ Hùng C vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý chí mong muốn được nuôi con. Trong thời gian trước đây và hiện nay con chung vẫn do bà Nguyễn Hà Phong G nuôi dưỡng và đảm bảo tốt về mọi mặt. Nên căn cứ vào Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có cơ sở để chấp nhận nguyện vọng của bà Nguyễn Hà Phong G là được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Đỗ Minh P.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Hà Phong G không yêu cầu ông Đỗ Hùng C thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

[6] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[7] Từ những phân tích nêu trên, Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hà Phong G.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Hà Phong G được ly hôn với ông Đỗ Hùng C (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 125/KH, ngày 23/12/1991 của Ủy ban nhân dân xã An Bình, huyện Thuận An, tỉnh Sông Bé (nay là phường An Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương) cấp.

Về con chung: Buộc ông Đỗ Hùng C giao người con chung tên con Đỗ Minh P, sinh ngày 20/6/2010 cho bà Nguyễn Hà Phong G tiếp tục nuôi dưỡng. Đối với các con chung Đỗ Nguyễn Trúc P, sinh ngày 01/8/1992, Đỗ Nguyễn Trúc U, sinh ngày 24/7/1994, Đỗ Minh K, sinh ngày 08/6/2000 đã trưởng thành nên Tòa án không giải quyết.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Hà Phong G không yêu cầu ông Đỗ Hùng C thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Sau ly hôn, bà Nguyễn Hà Phong G và ông Đỗ Hùng C có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Trường hợp ông Đỗ Hùng C lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây

ảnh hưởng xấu đến việc bà Nguyễn Hà Phong G nuôi con thì bà G có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông C theo quy định của pháp luật. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Hà Phong G phải chịu 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) án phí về ly hôn, được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004556 ngày 14/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Bà Nguyễn Hà Phong G đã nộp đủ.

3. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Dĩ An;
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An;
  • - UBND phường An Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Bà Nguyễn Hà Phong Giao khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con với bị đơn ông Đỗ Hùng Cường
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger