Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN ĐỊNH

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/HS-ST

Ngày 27-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung.
  • Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Chiểu.
  • 2. Bà Hoàng Thị Thu.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Tất D, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 20/02/1988 tại xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Tất Ú, sinh năm 1957; Con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1966; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo có vợ là Lữ Thị Y sinh năm 1993 (đã ly hôn), có 02 con sinh năm 2015 và năm 2016; Tiền sự: Không.

Tiền án: Tại Bản án số 05/2021/HS-ST ngày 01/3/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 43 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Cướp giật tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/9/2023, nộp án phí ngày 14/4/2021.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/6/2024, đến ngày 16/6/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y. Bị cáo có mặt tại phiên tòa

- Bị hại:

  1. Chị Trần Thị Thanh T, sinh năm: 1992, nơi cư trú: Số nhà G, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt.
  2. Chị Đỗ Thị H, sinh năm: 1985, nơi cư trú: Thôn S, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Thiều Quang Đ, sinh năm: 1997, nơi cư trú: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  2. Chị Lê Thị H1, sinh năm: 1992, nơi cư trú: Số nhà B CT3, chung cư P, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào các ngày 03/6/2024 và 04/6/2024, Lê Tất D đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 03/6/2024, Lê Tất D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS màu đỏ, đen, xám, biển kiểm soát 36B4-015.93 đi từ thị trấn V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa đến xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Khi đi qua quán K ở thôn T, xã Đ, huyện Y thì thấy 01 xe mô tô Honda Vision màu trắng của chị Trần Thị Thanh T (sinh năm 1992 ở số nhà G, Á, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp) dựng trước cửa quán karaoke, trong hốc phía bên trái tay lái xe có để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 11 lite 5G NE màu hồng nên D đã nảy sinh ý định trộm cắp. D quan sát xung quanh không có ai nên đã lấy chiếc điện thoại trên bỏ vào túi quần, quay xe đi về phía thị trấn V để tìm nơi bán điện thoại lấy tiền tiêu xài cá nhân. Trên đường đi, D đã tháo vứt sim và mang chiếc điện thoại trên đến cửa hàng mua bán điện thoại Quang Đức M ở khu B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa của anh Thiều Quang Đ (sinh năm 1997 ở Thôn T, xã Y, huyện Y, Thanh Hóa) bán với giá 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

Vụ thứ hai: Khoảng 19 giờ ngày 04/6/2024, D điều khiển xe mô tô Honda Lead màu vàng, biển kiểm soát 36E1 - 043.78 đi từ thị trấn V đến xã Đ, huyện Y. Khi đi đến khu vực thôn T, xã Đ thì D dừng xe đi vào quán T1 để mua áo mưa, thấy trong cửa hàng không có ai, trên bàn thanh toán có 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A93 màu xám có ốp lưng dạng da màu trắng, bên trong ốp có 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng và 01 điện thoại Samsung A32 màu xanh, có ốp lưng dạng da màu đỏ của chị Đỗ Thị H (sinh năm 1985, ở thôn S, xã Đ, huyện Y) thì D nảy sinh ý định trộm cắp. D lấy 02 chiếc điện thoại trên bỏ vào túi quần rồi điều khiển xe đi vê nhà. Đên sáng ngày 05/6/2024, D mang hai chiếc điện thoại di động trên đên cửa hàng mua bán điện thoại Quang Đức M ở thị trấn V bán được 3.200.000 đồng (Ba triệu hai trăm nghìn đồng). Số tiền bán điện thoại trên, D đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 07/6/2024, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên D đã chuộc lại 03 chiếc điện thoại nêu trên và đến Công an huyện Y đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình và giao nộp tài sản trộm cắp.

Tại Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS ngày 12/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Y kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 11 lite 5G NE, màu hồng, đã qua sử dụng, tại thời điểm xảy ra sự việc có giá trị 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A93 màu xám, đã qua sử dụng, tại thời điểm xảy ra sự việc có giá trị 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A32 màu xanh, đã qua sử dụng, tại thời điểm xảy ra sự việc có giá trị 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng).

Về vật chứng vụ án: Quá trình giải quyết vụ án, Lê Tất D giao nộp tài sản trộm cắp được và công cụ, phượng tiện đi trộm cắp tài sản gồm:

  • - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 11 lite 5G NE, màu hồng, số Imei 1: 861783057384025, số Imei 2: 861783057384033, đã qua sử dụng.
  • - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A93 màu xám, số Imei 1: 868057058613358, số Imei 2: 868057058613341, đã qua sử dụng.
  • - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A32 màu xanh, số Imei 1: 350944135796857, số Imei 2: 353186705796852, đã qua sử dụng.
  • - 01 chiếc áo chống nắng sọc caro màu trắng đen, đã qua sử dụng.
  • - 01 chiếc quần bò màu xám, đã qua sử dụng.
  • - 01 chiếc mũ bảo hiểm màu hồng, viền màu xanh, đã qua sử dụng.
  • - 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, màu đỏ đen xám, biển kiểm soát 36B4 - 015.93, đã qua sử dụng.

Đối với 03 chiếc điện thoại D trộm cắp được, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Trần Thị Thanh T và chị Đỗ Thị H.

Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave RS, màu đỏ đen xám, biển kiểm soát 36B4 - 015.93, quá trình điều tra xác định D mượn của em gái là Lê Thị H1 (sinh năm 1992 ở số 209 CT3, chung cư P, phường P, TP ., tỉnh Thanh Hóa) để đi làm. Chị H1 không biết D lấy xe đi trộm cắp tài sản nên cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị H1.

Các vật chứng còn lại hiện đang được bảo quản, chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Trần Thị Thanh T và chị Đỗ Thị H đã nhận lại điện thoại bị trộm cắp. Chị H yêu cầu D trả lại số tiền 100.000 đồng mà chị để trong ốp điện thoại. Chị T không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 72/CT-VKSYĐ ngày 05/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố Lê Tất D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Lê Tất D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định luận tội giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Tất D phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Tất D từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo chống nắng sọc caro màu trắng đen, 01 chiếc quần bò màu xám và 01 chiếc mũ bảo hiểm màu hồng, viền màu xanh. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải trả cho chị H số tiền 100.000 đồng. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về tội danh:

Thông qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo Lê Tất D hoàn toàn thừa nhận: Xuất phát từ động cơ vụ lợi nên vào ngày 03/6/2024, tại khu vực thôn T, xã Đ, huyện Y, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, Lê Tất D đã trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 11 lite 5G NE, màu hồng, đã qua sử dụng của chị Trần Thị Thanh T. Đến ngày 04/6/2024, D tiếp tục đến thôn T, xã Đ, huyện Y trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A93 màu xám, đã qua sử dụng cùng với số tiền 100.000 đồng được để sau ốp điện thoại và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A32 màu xanh, đã qua sử dụng của chị Đỗ Thị H. Bị cáo đã đem bán 03 chiếc điện thoại để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tổng giá trị tài sản bị cáo đã trộm cắp là 7.300.000 đồng (Bảy triệu ba trăm nghìn đồng).

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy

tố bị cáo theo tội danh trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, quan hệ pháp luật xâm phạm: Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự tại địa phương.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo đã bị kết án, mới chấp xong hình phạt phạt tù, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 02 lần, giá trị tài sản trộm cắp mỗi làn đều trên 2.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Sau khi phạm tội, đã tự nguyện giao nộp tài sản trộm cắp cho cơ quan điều tra. Vì vậy, bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Thành khẩn khai báo” và “Tự nguyện khắc phục hậu quả” theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt:

Từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt nêu trên, HĐXX xét thấy: Bị cáo đã bị kết án về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Cướp giật tài sản, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo làm nghề tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 03 chiếc điện thoại bị cáo trộm cắp, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Trần Thị Thanh T và chị Đỗ Thị H là đúng quy định.

Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave RS, màu đỏ đen xám, biển kiểm soát 36B4 - 015.93, quá trình điều tra xác định bị cáo mượn của em gái là chị Lê Thị H1. Chị H1 không biết D lấy xe đi trộm cắp tài sản nên cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị H1 là đúng quy định.

Đối với xe mô tô Honda Lead màu vàng, biển kiểm soát 36E1 - 043.78 bị cáo sử dụng để đi trộm cắp là xe của chị Lê Thị H1 (em gái bị cáo). Chị H1 không biết bị cáo lấy xe đi trộm cắp tài sản nên không thu giữ là phù hợp.

Đối với các vật chứng gồm: 01 áo chống nắng, 01 quần bò và 01 mũ bảo hiểm, là tư trang bị cáo sử dụng khi trộm cắp tài sản, không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Chị Trần Thị Thanh T và chị Đỗ Thị H đã nhận lại điện thoại bị trộm cắp. Chị T không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét. Chị H yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 100.000 đồng mà chị để trong ốp điện thoại. Buộc bị cáo phải trả cho chị H số tiền 100.000 đồng.

[8] Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có tách nhiệm bồi thường dân sự nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về các vấn đề khác có liên quan:

Đối với anh Thiều Quang Đ, khi mua điện thoại của bị cáo, anh Đ không biết là tài sản do trộm cắp mà có nên không cấu thành tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Tất D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt bị cáo Lê Tất D 17 (Mười bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 07/6/2024.
  3. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải trả cho chị Đỗ Thị H số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).
  5. Về xử lý vật chứng:
  6. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:

    • - 01 chiếc áo chống nắng sọc caro màu trắng đen, đã qua sử dụng.
    • - 01 chiếc quần bò màu xám, đã qua sử dụng.
    • - 01 chiếc mũ bảo hiểm màu hồng, viền màu xanh, đã qua sử dụng.

    Các vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, theo phiếu nhập kho số NK65 ngày 16/8/2024.

  7. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Tất D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  8. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Yên Định;
  • - Công an huyện Yên Định;
  • - Chi cục THADS Yên Định;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 69/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử Lê Tất D phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger