Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ PHƯỚC LONG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Mẫu số 27-HS

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2023/HS-ST

Ngày 26-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phán

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Khoa Nam, ông Lê Thành Dân

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Văn – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 12 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2023/TLST-HS ngày 25 tháng10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Âu Thị Thùy D; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: T; Sinh năm 2000, tại Sóc Trăng. Nơi đăng ký HKTT: Ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Nơi cư trú: Khu phố C, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 4/12. Họ và tên cha: Âu Văn C, sinh năm 1978; Họ và tên mẹ: Lê Bích T1, sinh năm 1980. Họ và tên chồng: Trần Quang T2, sinh năm 1978 (chưa đăng ký kết hôn) và có 02 con, lớn sinh năm 2019 nhỏ sinh năm 2021.

Từ năm 2012 sống cùng gia đình ở Ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Năm 2015 đi làm thuê ở thị xã P, tỉnh Bình Phước, đến năm 2019 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước, xử phạt 05 năm tù theo Bản án số 64/2020/HS-ST ngày 20/11/2020 (Chưa xóa án tích). Hiện đang hoãn chấp hành hình phạt tù, theo Quyết định số 09/2022 ngày 10/8/2022 của tòa án nhân dân thị xã Phước Long (thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù từ ngày 10/8/2022 đến ngày 17/8/2024). Đến ngày 17/5/2023 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” bị khởi tố bị can và tạm giữ, tạm giam cho đến nay.

Tiền sự: Không; Tiền án: 01

2. Họ và tên: Nguyễn Thị Bé Đ; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Nguyễn Thị T3; Sinh năm 1982, tại TP .; Nơi đăng ký HKTT: Không. Nơi cư trú: Khu phố C, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không; H và tên C1: Không; H và tên M: Không. Hoàn cảnh gia đình: Mồ côi cha mẹ từ nhỏ nên không biết cha mẹ tên gì hiện nay ở đâu. Họ và tên C2: Hiệu Minh V, sinh năm 1975, hiện sống lang thang; Bị can có 02 người con, lớn sinh năm 1999 nhỏ sinh năm 2012. Con nhỏ hiện cho người nhận nuôi ở thành phố Hồ Chí Minh;

Từ năm 1994 sống lang thang không có nơi ở cố định tại tỉnh Bình Phước. Năm 2012 đến ở tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông sinh sống, tháng 8/2012 phạm tội “Chứa mại dâm” khai tên là Nguyễn Thị T3 sinh năm 1979 tại thành phố Hồ Chí Minh, bị tòa án nhân dân huyện ĐăkR'Lấp, tỉnh Đăk Nông xử phạt 01 năm tù, theo Bản án số 25/2013/HS-ST ngày 21/6/2013 (Đã xóa án tích). Chấp hành án tại Trại giam A đến ngày 05/02/2015 chấp hành xong hình phạt tù về ở tại khu phố A, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Đến ngày 17/5/2023 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” bị khởi tố bị can và tạm giữ, tạm giam cho đến nay.

Tiền án, tiền sự: Không

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Âu Thị Thùy D là người nghiện ma túy, nên ngày 15/5/2023 D đi xe khách từ thị xã P xuống Bến xe M thuộc quận B, thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy về bán và sử dụng. Khi đến bến xe, D gặp một thanh niên có biểu hiện nghiện ma túy nên hỏi “Có ai bán ma túy không mua dùm 3.000.000 đồng” người này đồng ý và đi khoảng 10 phút sau quay lại đưa cho D 01 bịch ny lon màu trắng dạng khóa miết bên trong có ma túy, D đưa 3.000.000 đồng cho người thanh niên này rồi cầm ma túy đem về chỗ ở khu phố C, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước và phân ra rồi cho vào nhiều gói ny lon dạng khóa miết để sử dụng và bán cho con nghiện. Đến khoảng 15 giờ 00 phút ngày 17/5/2023 có Lê Trung T4 ở thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước liên hệ với D để mua ma túy, D lấy 01 gói ma túy đưa cho Nguyễn Thị Bé Đ (là người ở cùng nhà phụ giúp cho D) Đ cầm ma túy ra cổng nhà giao cho T4 rồi lấy 200.000 đồng vào đưa cho D.

Đến khoảng 20 giờ 00 tối cùng ngày 17/5/2023 D đưa cho Bé Đen 05 gói ma túy để ra khu vực sân bóng và vườn thông thuộc khu D, phường L, thị xã P để bán cho các con nghiện, D quy định mỗi gói bán với giá 200.000, Bé Đ điều khiển xe mô tô biển số 93T8-9858 (biển số giả) đem theo ma túy để đi bán, khi đi đến ngã tư đường L thuộc khu D, phường L, thị xã P thì bị Cơ quan điều tra Công an thị xã P bắt quả tang.

Tang vật thu giữ gồm: 05 gói ny lon dạng khóa miết kích thước (2x2cm) bên trong có chứa tinh thể màu trắng (ma túy); 01 nỏ thủy tinh (dụng cụ sử dụng ma túy) và 01 xe mô tô biển số 93T8-9858. Cơ quan điều tra tiếp tục khám xét khẩn cấp chỗ ở của Âu Thị Thùy D tại khu phố C, phường L, thị xã P, thu giữ: 05 gói ny lon dạng khóa miết

bên trong chứa ma túy, 10 gói (bịch ny lon) dạng miết khóa màu trắng kích thước 2x2cm, số tiền 8.750.000 đồng, 01 nỏ thủy tinh (dụng cụ sử dụng ma túy), 01 cân tiểu ly và 01 kéo inox. Cơ quan điều tra đã tạm giữ đối với Nguyễn Thị Bé ĐÂu Thị Thùy D để xác minh làm rõ. Đối với điện thoại Âu Thị Thùy D dùng để liên hệ bán ma túy cho các con nghiện đã bị hư và mất nên không thu giữ được.

Căn cứ kết luận giám định số 550/KL-KTHS ngày 22/5/2023 của phòng K Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M1, M2) được niêm phong gửi giám định là Ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng lần lượt là: M1 = 0,7666 gam. M2 = 1,0154 gam. Tổng khối lượng M1 + M2 = 1,7810 gam. H1 lại đối tượng giám định, mẫu hoàn lại được niêm phong có khối lượng: M1 = 0,6844 gam, M2 = 0.8252 gam (bl 58).

Tại bản Cáo trạng số 70/CTr-VKSPL ngày 23-10-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước truy tố đối với hành vi của bị cáo Âu Thị Thùy DNguyễn Thị Bé Đ về tội mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các quy định của pháp luật, xử phạt các bị cáo Âu Thị Thùy D mức hình phạt từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù và Nguyễn Thị Bé Đ từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, đề nghị xử lý vật chứng.

Ý kiến của các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Căn cứ vào lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, vật chứng của vụ án, đồng thời phù hợp với biên bản phạm tội quả tang tang, kết luận giám định số 550/KL-KTHS ngày 22/5/2023 của phòng K Công an tỉnh B và kết luận của Đại diện Viện kiểm sát, cùng các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được xét hỏi công khai tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 15/5/2023 Âu Thị Thùy D đi xuống bến xe M, thuộc quận B, thành phố Hồ Chí Minh, mua 3.000.000 đồng ma túy của một thanh niên không rõ họ tên, địa chỉ. Sau đó đem về nhà phân ra nhiều tép để sử dụng và bán cho các con nghiện. Vào khoảng

15 giờ 00 ngày 17/5/2023 D đưa 01 gói ma túy cho Nguyễn Thị Bé Đ (là người giúp việc cho D) đem ra cổng bán cho Lê Trung T4 lấy 200.000 đồng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày 17/5/2023 D đưa 05 gói ma túy cho Đ đem đi bán cho các con nghiện, Đ điều khiển xe mô tô biển số 93T8-9851 (biển số giả) trên đường đi thì bị bắt quả tang. Cơ quan điều tra khám chỗ ở của Âu Thị Thùy D còn phát hiện và thu giữ 05 gói ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy.

Căn cứ kết luận giám định số 550/KL-KTHS ngày 22/5/2023 của phòng K Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M1, M2) được niêm phong gửi giám định là Ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng lần lượt là: M1 = 0,7666 gam. M2 = 1,0154 gam. Tổng khối lượng M1 + M2 = 1,7810 gam.

Hành vi mà các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương, là nguyên nhân chính gây ra các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác.

Các Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, mặc dù khi thực hiện hành vi phạm tội của mình, các bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được tác hại của chất ma túy, nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích kiếm tiền nhanh, nhiều nên các bị cáo bất chấp pháp luật. Bị cáo D là người đã có tiền án về tội ma tuý, bị xử phạt 05 năm tù chưa chấp hành do đang nuôi con nhỏ. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cảnh tỉnh, sửa chữa bản thân mà tiếp tục phạm tội, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm. Ngoài ra bị cáo D là người chủ động, tích cực thực hiện hành vi mua ma tuý về, chia ra để bán và là người rủ rê, lôi kéo bị cáo Đ phạm tội, nên hình phạt của bị cáo D phải cao hơn bị cáo Đ.

Hành vi của các bị cáo Âu Thị Thùy DNguyễn Thị Bé Đ đã đủ các yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng số 70/CTr-VKSPL ngày 23-10-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và biện pháp xử lý:

Xét thấy, bị cáo Âu Thị Thùy D có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là: “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: “Người phạm tội thành khẩn khai báo”; “Đang nuôi con nhỏ” quy định tại điểm s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Thị Bé Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc tội phạm nghiêm trọng có khung hình phạt từ 02 đến 07 năm tù, nên Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù để cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, tạo điều kiện cho các bị cáo có thời gian cải tạo để sửa chữa bản thân thành người có ích cho gia đình và xã hội, nhằm răn đe, giáo dục các bị

cáo có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống được pháp luật hình sự bảo vệ, nhằm giáo dục ý thức đấu tranh, phòng chống các tội phạm về ma túy.

[4] Xét ý kiến của Kiểm sát viên và các bị cáo tại phiên tòa:

Quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các quy định của pháp luật, xử phạt bị cáo Âu Thị Thùy D mức hình phạt từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù và Nguyễn Thị Bé Đ từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Ngoài ra còn đề nghị tổng hợp hình phạt đối với bản án trước đó cho bị cáo D, đề nghị xử lý vật chứng là phù hợp, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Lời nói sau cùng của các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Trong quá trình điều tra Âu Thị Thùy D còn khai nhận thời gian trước đó vào cuối tháng 4/2023 D đi xuống bến xe M mua ma túy về chia ra nhiều gói nhỏ và bán cho các con nghiện tại nhà, các con nghiện liên hệ điện thoại hẹn đến nhà hoặc chỗ khác thì D đưa cho Đ đem ra giao cho các con nghiện lấy tiền đưa cho D, D và Đ bán ma túy cho nhiều người nhưng không biết họ tên và địa chỉ người mua, nên không đủ cở sở xem xét xử lý.

[6] Về vật chứng:

  • - Đối với 01 phong bì sau giám định (đã niêm phong) bên trong có: M1 = 0,6844 gam, M2 = 0.8252 gam ma túy, 10 gói (bịch ny lon) dạng khóa miết màu trắng, kích thước 2x2cm, 02 bộ sử dụng ma túy (nỏ thủy tinh), 01 cân tiểu ly và 01 kéo inox, cần tịch thu tiêu huỷ.
  • - Đối với số tiền 8.750.000 đồng đã thu giữ của D, trong đó có 3.000.000 đồng do em gái tên D1 ở Đ cho để trả tiền thuê nhà, số tiền 2.500.000 đồng do S ở xã P, huyện B trả nợ còn 3.250.000 đồng là tiền dùng để sinh hoạt hàng ngày trong đó có 200.000 đồng là tiền bán ma túy trong ngày 17/5/2023. Cần tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng do thu lợi bất chính từ việc bán ma túy mà có. Tuyên trả cho bị cáo Âu Thị Thùy D số tiền 8.550.000 đồng do không liên quan đến vụ án.
  • - Đối với 01 xe mô tô Nhãn hiệu Dream biển số 93T8-9851 (biển số giả) của Nguyễn Thị Bé Đ mua của một người không rõ nhân thân lai lịch, xe không có giấy đăng ký. Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định về số khung số máy đến nay chưa có kết quả. Căn cứ phiếu xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 26/5/2023 của Công an thị xã P: Không tìm thấy dữ liệu tra cứu (bl 63, 66). Cơ quan điều tra đã tách ra để xử lý sau khi có kết quả giám định.

[7] Về chi phí tố tụng: Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Âu Thị Thùy DNguyễn Thị Bé Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Căn cứ vào các Điều 106, 136, 326 và 327 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

    • Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; các Điều 17; 38; 47; 50; 56 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH ngày 20/12/2016 về án phí, lệ phí.
    • Xử phạt bị cáo Âu Thị Thùy D 05 (Năm) năm tù. Tổng hợp hình phạt 05 năm tù theo Bản án số 64/2020/HS-ST ngày 20/11/2020 của tòa án nhân dân thị xã Phước Long. Buộc bị cáo Âu Thị Thùy D phải chấp hành hình phạt chung 10 (M1) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 17/5/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo để thi hành hình phạt tù;
    • Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17; 38; 47; 50 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH ngày 20/12/2016 về án phí, lệ phí.
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bé Đ 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 17/5/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo để thi hành hình phạt tù;
  2. Vật chứng của vụ án:
    • - Tuyên tịch thu tiêu huỷ gồm: Số ma tuý loại Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong có ký hiệu M1 = 0,6844 gam và M2 = 0.8252 gam; 10 gói (bịch ny lon) dạng khóa miết màu trắng, kích thước 2x2cm; 02 bộ sử dụng ma túy (nỏ thủy tinh), 01 cân tiểu ly và 01 kéo inox,.
    • - Tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng của bị cáo Âu Thị Thùy D. Trả cho bị cáo Âu Thị Thùy D số tiền 8.550.000 đồng.
  3. Về chi phí tố tụng: Bị cáo Âu Thị Thùy D và bị cáo Nguyễn Thị Bé Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;
  4. Các Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND thị xã Phước Long;
  • - CQĐT CA thị xã Phước Long;
  • - CQTHAHS CA thị xã Phước Long;
  • - Nhà tạm giữ CA thị xã Phước Long;
  • - Chi cục THADS thị xã Phước Long;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

NGUYỄN VĂN PHÁN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 69/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Âu Thị Thuỳ Dương và đồng phạm phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger