Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NÔNG CỐNG

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 69/2023/HS-ST

Ngày 26-12-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Kỳ Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Vân và ông Nguyễn Xuân Hùng.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Doãn Phương Liên - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Ông Hà Đức Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên Trần Đăng M, sinh ngày 01 tháng 5 năm 1997 tại xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đăng X, sinh năm: 1972; con bà Hồ Thị H, sinh năm 1976, cả bố bà mẹ hiện sinh sống tại xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; gia đình có 2 anh em, bị cáo là con đầu; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1996, hiện sinh sống tại xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa và có 2 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2022.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/6/2023 đến ngày 26/6/2023 thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Lê Tất T1, sinh năm 2005
  2. Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Anh Nguyễn Ngọc D, sinh năm 2005
  4. Địa chỉ: thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

  5. Anh Ngân Tiến Đ, sinh năm 2005
  6. Địa chỉ: thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

  7. Anh Bùi Văn M1, sinh năm 1997
  8. Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

  9. Anh Lê Đức H1, sinh năm 1986
  10. Địa chỉ: thôn Y, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

  11. Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1985
  12. Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

  13. Anh Bùi Văn P, sinh năm 2004
  14. Địa chỉ: thôn Đ, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

  15. Anh Trần Văn V, sinh năm 1995
  16. Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

  17. Anh Phan Hữu Â, sinh 1992
  18. Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa vắng mặt toàn bộ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có nghề nghiệp ổn định nên Trần Đăng M, sinh năm 1997, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa sử dụng tiền cá nhân thực hiện hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nhằm thu lợi bất chính từ việc cho vay để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Từ tháng 02/2022 đến ngày 17/6/2023, Trần Đăng M đã cho 09 cá nhân trên địa bàn huyện N, tỉnh Thanh Hóa và huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay tiền với lãi suất thỏa thuận trong quá trình vay từ 5.000 đồng đến 6.667 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương ứng mức lãi suất từ 182,5% đến 243%/năm), lãi suất tính từ thời điểm vay, tiền lãi thanh toán hàng tháng, mỗi tháng tính 30 ngày và không thỏa thuận thời hạn thanh toán tiền gốc. Lãi suất do các bên tự thỏa thuận vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự (20%/năm) từ 9,125 lần đến 12,15 lần. Trần Đăng M đã cho vay và thu lợi bất chính cụ thể như sau:

  1. Trần Đăng M cho anh Lê Tất T1, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay tiền 02 lần, cụ thể:
  2. Lần thứ nhất vào ngày 20/01/2023, Trần Đăng M cho anh Lê Tất T1 vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 6.667 đồng/01 triệu đồng/01 ngày, vượt quá quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 12,15 lần. Trần Đăng M thu lãi trước ngay tại thời điểm vay (cắt lãi trước) 01 tháng (30 ngày) tiền lãi. Quả trình cho vay, anh Lê Tất T1 đã trả được cho Trần Đăng M 120 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 4.000.000 đồng rồi trả tiền gốc và kết thúc khoản vay. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Trần Đăng M được phép thu của anh Lê Tất T1 120 ngày là 333.333 đồng (ba trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng) tiền lãi, Trần Đăng M thu lợi bất chính số tiền 3.666.667 đồng (ba triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).

    Lần thứ hai vào ngày 21/3/2023, Trần Đăng M cho anh Lê Tất T1 vay số tiền 6.000.000 đồng với lãi suất là 5.556 đồng/01 triệu đồng/01 ngày, vượt quá quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 9,99 lần. Trần Đăng M thu lãi trước ngay tại thời điểm vay (cắt lãi trước) 01 tháng (30 ngày) tiền lãi. Quá trình cho vay, anh Lê Tất T1 đã trả được cho Trần Đăng M 90 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 3.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Trần Đăng M được phép thu của anh Lê Tất T1 90 ngày là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền lãi, Trần Đăng M thu lợi bất chính số tiền 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm nghìn đồng). Tính đến ngày 17/6/2023, anh Lê Tất T1 còn nợ Trần Đăng M 6.000.000 đồng tiền gốc.

  3. Trần Đăng M cho anh Nguyễn Ngọc D, sinh năm 2005, trú tại: thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay tiền 04 lần, cụ thể:
  4. Lần thứ nhất vào ngày 19/8/2022, Trần Đăng M cho anh Nguyễn Ngọc D vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 5.333 đồng/01 triệu/01 ngày vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 9,59 lần. Trần Đăng M thu lãi trước ngay tại thời điểm vay (cắt lãi trước) 01 tháng (30 ngày) tiền lãi. Quá trình cho vay, anh Nguyễn Ngọc D đã trả được cho Trần Đăng M 60 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 1.600.000 đồng rồi trả tiền gốc và kết thúc khoản vay. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Trần Đăng M được phép thu của anh Nguyễn Ngọc D 60 ngày là 166.667 đồng (một trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng) tiền lãi, Trần Đăng M thu lợi bất chính số tiền 1.433.333 đồng (một triệu bốn trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).

    Lần thứ hai vào ngày 26/8/2022, Trần Đăng M cho anh Nguyễn Ngọc D vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 8,99 lần. Trần Đăng M thu lãi trước ngay tại thời điểm vay (cắt lãi trước) 01 tháng (30 ngày) tiền lãi. Quá trình cho vay, anh Nguyễn Ngọc D đã trả được cho Trần Đăng M 60 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 3.000.000 đồng rồi trả tiền gốc và kết thúc khoản vay. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Trần Đăng M được phép thu của anh Nguyễn Ngọc D 60 ngày là 333.333 đồng (ba trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng) tiền lãi, Trần Đăng M thu lợi bất chính số tiền 2.666.667 đồng (hai triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).

    Lần thứ 3 vào ngày 13/9/2022, Trần Đăng M cho anh Nguyễn Ngọc D vay số tiền 6.000.000 đồng với lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, vượt quá quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 8,99 lần. Trần Đăng M thu lãi trước ngay tại thời điểm vay (cắt lãi trước) 01 tháng (30 ngày) tiền lãi. Quá trình cho vay, anh Nguyễn Ngọc D đã trả được cho Trần Đăng M 60 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 1.800.000 đồng rồi trả tiền gốc và kết thúc khoản vay. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Trần Đăng M được phép thu của anh Nguyễn Ngọc D 60 ngày là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền lãi, Trần Đăng M thu lợi bất chính số tiền 1.600.000 đồng (một triệu sáu trăm nghìn đồng).

    Lần thứ tư vào ngày 14/6/2023, Trần Đăng Mcho anh Nguyễn Ngọc D vay số tiền 4.000.000 đồng với lãi suất 6.667 đồng/01 triệu/01 ngày vượt quá quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 12,15 lần. Trần Đăng M thu lãi trước ngay tại thời điểm vay (cắt lãi trước) 01 tháng (30 ngày) tiền lãi với số tiền lãi là 800.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Trần Đăng M được phép thu của anh Nguyễn Ngọc D 30 ngày là. 66.667 đồng (sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng), Trần Đăng M thu lợi bất chính số tiền 733.333 đồng (bảy trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng) tiền lãi. Tính đến ngày 17/6/2023, anh Nguyễn Ngọc D còn nợ Trần Đăng M 4.000.000 đồng tiền gốc.

  5. Ngày 06/5/2023, Trần Đăng M cho anh Ngân Tiến Đ, sinh năm 2005, trú tại: thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 7.000.000 đồng với lãi suất là 6.190 đồng/01 triệu/01 ngày vượt quá quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 11,13 lần. Trần Đăng M thu lãi trước ngay tại thời điểm vay (cắt lãi trước) 01 tháng (30 ngày) tiền lãi. Quá trình cho vay, anh Ngân T3 Đ đã trả được cho Trần Đăng M 60 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 2.600.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Trần Đăng M được phép thu của anh Ngân T3 Đạt 60 ngày là 233.333 đồng (hai trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng) tiền lãi, Trần Đăng M thu lợi bất chính số tiền 2.366.667 đồng (hai triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng). Tính đến ngày 17/6/2023, anh Ngân T3 Đ còn nợ Trần Đăng M 7.000.000 đồng tiền gốc.
  6. Ngày 05/8/2022, Trần Đăng M cho anh Bùi Văn M1, sinh năm 1997, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay Số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 6.667 đồng/01 triệu/01 ngày, vượt quá quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 12,15 lần. Trần Đăng M thu lãi trước ngay tại thời điểm vay (cắt lãi trước) 01 tháng (30 ngày) tiền lãi. Tính đến ngày 17/6/2023, Trần Đăng M đã cho anh Bùi Văn M1 vay tiền tổng 317 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 10.567.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Trần Đăng M được phép thu của anh Bùi Văn M1 317 ngày là 880.556 đồng (tám trăm tám mươi nghìn năm trăm năm mươi sáu đồng) tiền lãi, Trần Đăng M nhằm thu lợi bất chính số tiền 9.686.444 đồng (chín triệu sáu trăm tám mươi sáu đồng bốn trăm bốn mươi bốn đồng). Quá trình cho vay, anh Bùi Văn M1 mới trả được cho Trần Đăng M 90 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 3.000.000 đồng, trong đó Trần Đăng M đã thu lợi bất chính số tiền 2.750.000 đồng (hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc anh Bùi Văn M1 còn nợ, Trần Đăng M cũng đã yêu cầu anh Bùi Văn M1 trả nhưng anh Bùi Văn M1 vẫn chưa trả được cho Trần Đăng M.
  7. Ngày 24/4/2023, Trần Đăng M cho anh Lê Đức H1, sinh năm 1986, trú tại: thôn Y, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/01 triệu đồng/01 ngày, vượt quá quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 7,19 lần. Tính đến ngày 17/6/2023, Trần Đăng M đã cho anh Lê Đức H1 vay tiền tổng 55 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 1.100.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Trần Đăng M được phép thu của anh Lê Đức H1 55 ngày là 152.778 đồng (một trăm năm hai nghìn bảy trăm bảy mươi tám đồng) tiền lãi, Trần Đăng M nhằm thu lợi bất chính số tiền 947.222 đồng (chín trăm bốn mươi bảy nghìn hai trăm hai mươi hai đồng). Quá trình cho vay, anh Lê Đức H1 mới trả được cho Trần Đăng M 30 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 600.000 đồng, trong đó Trần Đăng M đã thu lợi bất chính số tiền 516.667 đồng (năm trăm mười sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc anh Lê Đức H1 còn nợ, theo thỏa thuận thì anh Lê Đức H1 vẫn phải trả cho Trần Đăng M, tuy nhiên chưa đến thời hạn trả tiền lãi theo thỏa thuận nên Trần Đăng M chưa thu được tiền lãi từ anh Lê Đức H1.
  8. Trần Đăng M cho anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1985, trú tại; thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay tiền 03 lần, cụ thể:
  9. Lần thứ nhất vào ngày 12/01/2023, Trần Đăng M cho anh T2 vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 5.333 đồng/01 triệu/01 ngày vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 9,59 lần. Trần Đăng M thu lãi trước ngay tại thời điểm vay (cắt lãi trước) 01 tháng (30 ngày) tiền lãi. Tính đến ngày 17/6/2023, Trần Đăng M đã cho anh Nguyễn Văn T2 vay tiền tổng 157 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 4.186.400 đồng(Bốn triệ một trăm tám mươi sáu nghìn bốn trăm đồng). Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Trần Đăng M được phép thu của anh Nguyễn Văn T2 157 ngày là 436,111 đồng (bốn trăm ba mươi sáu nghìn một trăm mười một đồng) tiền lãi, Trần Đăng M nhằm thu lợi bất chính số tiền 3,750,289 đồng (ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn hai trăm tám mươi chín đồng). Quá trình cho vay, anh Nguyễn Văn T2 mới trả được cho Trần Đăng M 120 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 3.200.000 đồng, trong đó Trần Đăng M đã thu lợi bất chính số tiền 2,866,667 đồng (hai triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc anh Nguyễn Văn T2 còn nợ, theo thỏa thuận thì anh Nguyễn Văn T2 vẫn chưa trả được cho Trần Đăng M.

    Lần thứ hai vào ngày 27/01/2023, Trần Đăng M cho anh T2 vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 5.333 đồng/01 triệu/01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 9,59 lần. Trần Đăng M thu lãi trước ngay tại thời điểm vay (cắt lãi trước) 01 tháng (30 ngày) tiền lãi. Tính đến ngày 17/6/2023, Trần Đăng M đã cho anh Nguyễn Văn T2 vay tiền tổng 142 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 3,786,430 đồng(Ba triệu bảy trăm tám mươi sáu nghìn bốn trăm ba mươi đồng). Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Trần Đăng M được phép thu của anh Nguyễn Văn T2 142 ngày là 394,444 đồng (ba trăm chín mươi bốn nghìn bốn trăm bốn mươi bốn đồng) tiền lãi, Trần Đăng M nhằm thu lợi bất chính số tiền 3,391,986 đồng (ba triệu ba trăm chín mươi mốt nghìn chín trăm tám mươi sáu đồng). Quá trình cho vay, anh Nguyễn Văn T2 mới trả được cho Trần Đăng M 90 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 2,400,000 đồng đồng, trong đó Trần Đăng M đã thu lợi bất chính số tiền 2,150,000 đồng (hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc anh Nguyễn Văn T2 còn nợ, theo thỏa thuận thì anh Nguyễn Văn T2 vẫn phải trả cho Trần Đăng M, Trần Đăng M cũng đã yêu cầu anh Bùi Văn M1 trả nhưng anh Bùi Văn M1 vẫn chưa trả được cho Trần Đăng M.

    Lần thứ ba vào ngày 10/4/2023, Trần Đăng M cho anh T2 vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 8,99 lần. Trần Đăng M thu lãi trước ngay tại thời điểm vay (cắt lãi trước) 01 tháng (30 ngày) tiền lãi. Tính đến ngày 17/6/2023, Trần Đăng M đã cho anh Nguyễn Văn T2 vay tiền tổng 69 ngày, nhằm thu số tiền lãi là 3.450.000 đồng(Ba triệ bốn trăm năm mươi nghìn đồng). Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Trần Đăng M được phép thu của anh Nguyễn Văn T2 69 ngày là 383.333 đồng (ba trăm tám mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng) tiền lãi, Trần Đăng M nhằm thu lợi bất chính số tiền 3.066.667 đồng (ba triệu không trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng). Quá trình cho vay, anh Nguyễn Văn T2 mới trả được cho Trần Đăng M 60 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 3.000.000 đồng, trong đó Trần Đăng M đã thu lợi bất chính số tiền 2.666.667 đồng (hai triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng). Đối với số tiền lãi và tiền gốc anh Nguyễn Văn T2 còn nợ, theo thỏa thuận thì anh Nguyễn Văn T2 vẫn chưa trả được cho Trần Đăng M.

  10. Ngày 05/02/2023, Trần Đăng M cho anh Bùi Văn P, sinh năm 2004, trú tại: thôn Đ, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 5.333 đồng/01 triệu/01 ngày vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 9,59 lần. Trần Đăng M thu lãi trước ngay tại thời điểm vay (cắt lãi trước) 01 tháng (30 ngày) tiền lãi. Quá trình cho vay, anh Bùi Văn P đã trả được cho Trần Đăng M 150 ngày tiền lãi với tổng số tiền là 4.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Trần Đăng M được phép thu của anh Bùi Văn P 150 ngày là 416.667 đồng (bốn trăm mười sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng) tiền lãi, Trần Đăng M thu lợi bất chính số tiền 3.583.333 đồng (ba triệu năm trăm tám mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng). Tính đến ngày 17/6/2023, anh Bùi Văn P còn nợ Trần Đăng M 5.000.000 đồng tiền gốc.
  11. Trần Đăng M cho anh Trần Văn V, sinh năm 1995, trú tại; thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay tiền 03 lần, cụ thể:
  12. Lần thứ nhất vào ngày 20/01/2023, Trần Đăng M cho anh Trần Văn V vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 5.333 đồng/01 triệu/01 ngày vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 9,59 lần. Trần Đăng M thu lãi trước ngay tại thời điểm vay (cắt lãi trước) 01 tháng (30 ngày) tiền lãi. Quá trình cho vay, anh Trần Văn V đã trả được cho Trần Đăng M 30 ngày tiền lãi với số tiền là 800.000 đồng rồi trả tiền gốc và kết thúc khoản vay. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Trần Đăng M được phép thu của anh Trần Văn V 30 ngày là 83.333 đồng (tám mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng) tiền lãi, Trần Đăng M thu lợi bất chính số tiền 716.667 đồng (bảy trăm mười sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).

    Lần thứ hai vào ngày 05/5/2023, Trần Đăng M cho anh Trần Văn V vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 5.333 đồng/01 triệu/01 ngày vượt quá quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 9,59 lần. Trần Đăng M thu lãi trước ngay tại thời điểm vay (cắt lãi trước) 01 tháng (30 ngày) tiền lãi. Quá trình cho vay, anh Trần Văn V đã trả được cho Trần Đăng M 30 ngày tiền lãi với số tiền là 800.000 đồng rồi trả tiền gốc và kết thúc khoản vay. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Trần Đăng M được phép thu của anh Trần Văn V 30 ngày là 83.333 đồng (tám mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng) tiền lãi, Trần Đăng M thu lợi bất chính số tiền 716.667 đồng (bảy trăm mười sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).

    Lần thứ ba vào ngày 14/6/2023, Trần Đăng M cho anh Trần Văn V vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 5.333 đồng/01 triệu/01 ngày vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 9,59 lần. Trần Đăng M thu lãi trước ngay tại thời điểm vay (cắt lãi trước) 01 tháng (30 ngày) tiền lãi. Quá trình cho vay, anh Trần Văn V đã trả được cho Trần Đăng M 30 ngày tiền lãi với số tiền là 800.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Trần Đăng M được phép thu của anh Trần Văn V 30 ngày là 83.333 đồng (tám mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng) tiền lãi, Trần Đăng M thu lợi bất chính số tiền 716.667 đồng (bảy trăm mười sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng). Tính đến ngày 17/6/2023, anh Trần Văn V còn nợ lại Trần Đăng M 5.000.000 đồng tiền gốc.

  13. Trần Đăng M cho anh Phan Hữu Â, sinh năm 1992, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay tiền 03 lần, cụ thể:
  14. Lần thứ nhất vào ngày 02/02/2023, Trần Đăng M cho anh Phan Hữu  vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, vượt quá quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 8,99 lần. Trần Đăng M thu lãi trước ngay tại thời điểm vay (cắt lãi trước) 01 tháng (30 ngày) tiền lãi. Quá trình cho vay, anh Phan Hữu  đã trả được cho Trần Đăng M 150 ngày tiền lãi với số tiền là 7.500.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Trần Đăng M được phép thu của anh Phan Hữu  150 ngày là 833.333 đồng (tám trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng) tiền lãi, Trần Đăng M thu lợi bất chính số tiền 6,666,667 đồng (sáu triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng). Tính đến ngày 17/6/2023, anh Phan Hữu  còn nợ lại Trần Đăng M 10.000.000 đồng tiền gốc.

    Lần thứ hai vào ngày 08/3/2023, Trần Đăng M cho anh Phan Hữu  vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 8,99 lần. Trần Đăng M thu lãi trước ngay tại thời điểm vay (cắt lãi trước) 01 tháng (30 ngày) tiền lãi. Quá trình cho vay, anh Phan Hữu  đã trả được cho Trần Đăng M 120 ngày tiền lãi với số tiền là 6.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự số tiền lãi tối đa Trần Đăng M được phép thu của anh Phan Hữu  150 ngày là 666.667 đồng (sáu trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng) tiền lãi, Trần Đăng M thu lợi bất chính số tiền 5.333.333 đồng (năm triệu ba trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng). Tính đến ngày 17/6/2023, anh Phan Hữu  còn nợ lại Trần Đăng M 10.000.000 đồng tiền gốc.

    Lần thứ ba vào ngày 06/6/2023, Trần Đăng M cho anh Phan Hữu  vay số tiền 10.000.000 đồng lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 8,99 lần. Tuy nhiên, sau khi cho vay Trần Đăng M đã hỏi và lấy lại tiền gốc từ anh Phan Hữu  sau 02 ngày và Trần Đăng M không thu tiền lãi đối với khoản vay này nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa không có căn cứ xử lý đối với Trần Đăng M về khoản vay này.

* Ngoài 09 (chín) cá nhân Trần Đăng M cho vay tiền với lãi suất cao nhằm thu lợi bất chính ở trên, Trần Đăng M còn cho 07(bảy) cá nhân khác vay tiền, cụ thể:

  1. Trần Đăng M cho anh Lê Văn Q, sinh năm 1996, trú tại: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay tiền 02 lần, cụ thể: Ngày 26/9/2022 Trần Đăng M cho anh Lê Văn Q vay số tiền 5.000.000 đồng và ngày 17/11/2022, Trần Đăng M cho anh Lê Văn Q vay số 5.000.000 đồng.
  2. Trần Đăng M cho anh Bùi Trung T4, sinh năm 2000, trú tại: xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay tiền 02 lần, cụ thể: Ngày 20/3/2023, Trần Đăng M cho anh Bùi Trung T4 vay số tiền 5.000.000 đồng và ngày 05/4/2023, Trần Đăng M cho anh Bùi Trung T4 vay số tiền 5.000.000 đồng.
  3. Ngày 18/4/2023, Trần Đăng M cho anh Lê Văn D1, sinh năm 1989, trú tại: thôn G, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 7.000.000 đồng.
  4. Ngày 11/02/2023, Trần Đăng M cho chị Bùi Thị N, sinh năm 2000, trú tại: xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay 15.000.000 đồng.
  5. Ngày 19/02/2023, Trần Đăng M cho anh Trần Hữu T5, sinh năm 1995, trú tại: thôn P, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay 4.000.000 đồng.
  6. Trần Đăng M cho anh Bùi Minh H2, sinh năm 1996, trú tại: xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay tiền 02 lần, cụ thể: Ngày 22/10/2022, Trần Đăng M cho anh Bùi Minh H2 vay số tiền 5.000.000 đồng và ngày 17/11/2022 Trần Đăng M cho anh Bùi Minh H2 số 5.000.000 đồng.
  7. Ngày 07/02/2023, Trần Đăng M cho anh Lương Văn T6, sinh năm 1994, trú tại: thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa vay số tiền 5.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, 07(bảy) cá nhân trên không có mặt tại địa phương nơi cư trú, không xác định nơi ở hiện tại nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa không làm việc được với những cá nhân trên vì vậy không xác định được lãi suất cho vay và số tiền thu lợi bất chính mà Trần Đăng M đã thu được từ 07 (bảy) cá nhân trên nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa không có căn cứ để xử lý đối với Trần Đăng M với những khoản tiền đã cho vay này. Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa sẽ tiếp tục điều tra xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

- Tại bản kết luận giám định số 2792/KL-KTHS ngày 31/7/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận không tìm thấy dữ liệu bị xóa trong chiếc điện thoại của Trần Đăng M.

Như vậy, tổng số tiền Trần Đăng M đã sử dụng để cho vay là 113.000.000₫ (Một trăm mười ba triệu đồng). Trong đó, số tiền nợ gốc đã thu là 36.000.000₫ (Ba mươi sáu triệu đồng), số tiền nợ gốc chưa thu được là 77.000.000₫ (Bảy mươi bảy triệu đồng). Tổng số tiền lãi đã thu của 09(Chín) người vay là 48.900.000₫ (Bốn mươi tám triệu chín trăm nghìn đồng). Trong đó, số tiền lãi tối đa được phép thu theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự (20%/năm) là 5.050.000đ (Năm triệu không trăm năm mươi nghìn đồng); Số tiền lãi đã thu vượt quá quy định là 43.850.000₫ (Bốn mươi ba triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).

Cơ quan điều tra cũng đã yêu cầu Ngân hàng T7 và Ngân hàng M2 cung cấp các bản sao kê lịch sử giao dịch trên tài khoản của Trần Đăng M. Kết quả sao kê các tài khoản do ngân hàng cung cấp phù hợp với lời khai của Trần Đăng M và lời khai của những người liên quan.

Ngày 17/6/2023, Trần Đăng M đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng;

Quá trình điều tra đã thu giữ, tạm giữ các đồ vật, tài liệu gồm:

  • 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG M52, màu nâu, số IMEI 1: 353041900529980, IMEI 2: 3585286600529981, gắn 02 sim V1 là chiếc điện thoại mà Trần Đăng M đã sử dụng để chuyển tiền cho vay và hỏi nợ đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa chờ xử lý theo quy định của pháp luật;
  • 16 (mười sáu) giấy vay tiền do các cá nhân vay viết khi vay tiền được đánh số bút lục và lưu trong hồ sơ vụ án.
  • 01 (một) khẩu súng săn và 01 (một) con dao thu giữ trong quá trình khám xét; Tại bản kết luận giảm định số 2632/KL-KTHS ngày 11/7/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận K súng và con dao thu được trong quá trình khám xét là vũ khí, thuộc loại súng săn và vũ khí thô sơ, thuộc loại đao. Qua đó chứng minh Trần Đăng M thực hiện hành vi Tàng trữ súng săn và tàng trữ vũ khí thô sơ được quy định tại Điểm a, d Khoản 4 Điều 11 Nghị định 144/2021NĐ-CP nên ngày 20/9/2023, Chủ tịch UBND huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã ra Quyết định xử phạt đối với Trần Đăng M về hành vi Tàng trữ súng săn và tàng trữ vũ khí thô sơ, tịch thu và giao cho Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa xử lý.

Tại bản cáo trạng số 65/CT-VKSNC ngày 10/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Trần Đăng M về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật và tuyên phạt bị cáo cụ thể như sau:

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Trần Đăng M từ 12 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ là 09 ngày quy đổi thành 27 ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa nhận được quyết định thi hành án.

Khấu trừ thu nhập trong thời gian cải tạo không giam giữ của Trần Đăng M từ 5% đến 10% thu nhập theo mức thu nhập bình quân tại địa phương đã được Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa xác minh.

Xử phạt bổ sung Trần Đăng M từ 30.000.000₫ đến 40.000.000₫ để nộp vào ngân sách nhà nước.

- Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 36.000.000₫ là tiền gốc bị cáo đã thu được từ những người vay nhưng đã được sử dụng vào việc cho những người khác vay, vì vậy số tiền này đã nằm trong tổng số tiền những người vay đang còn nợ của bị cáo nên đề nghị không truy thu số tiền này; đối với số tiền 77.000.000₫ bị cáo cho những người vay nhưng chưa trả, cần truy thu của những người này để nộp vào ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền do phạm tội mà có là số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật là 20% sau khi bị cáo thu được từ những người vay, bị cáo tiếp tục dùng vào việc cho những người khác vay sau đó. Vì vậy không truy thu số tiền này của bị cáo vì đã nằm trong số tiền gốc hiện đang cho người có quyền lợi, nghĩa vụ trong vụ án vay.

Đối với số tiền lãi thu vượt quá quy định của pháp luật, cần phải buộc bị cáo phải trả lại cho những người vay là đúng quy định của pháp luật.

* Về xử lý vật chứng:

  • 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG M52, màu nâu, số IMEI 1: 353041900529980, IMEI 2: 3585286600529981, gắn 02 sim V1 là chiếc điện thoại mà Trần Đăng M đã sử dụng để liên lạc hỏi nợ là phương tiện phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • Khẩu súng săn và con dao thu giữ được tại nhà bị cáo xác định đây là vũ khí thô sơ và đã được xử lý bằng quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo nhận tội, không tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát, nhận thấy hành vi của mình là trái quy định của pháp luật, ân hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, điều đó đủ cơ sở chứng minh:

Từ tháng 05 năm 2022 đến ngày 17/6/2023, Trần Đăng M đã cho 09 (chín) cá nhân trên địa bàn huyện N, tỉnh Thanh Hóa và huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay tổng số tiền 113.000.000đ (một trăm mười ba triệu đồng), với lãi suất thỏa thuận trong quá trình vay từ 5.000 đồng đến 6.667 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày (tương ứng mức lãi suất từ 182,5% đến 243%/năm), lãi suất tính từ thời điểm vay, tiền lãi thanh toán hàng tháng, mỗi tháng tính 30 ngày và không thỏa thuận thời hạn thanh toán tiền gốc. Lãi suất Trần Đăng M cho vay vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự (20%/năm) từ 9,125 lần đến 12,15 lần. Trần Đăng M đã thu lợi bất chính được tổng số tiền 43.850.000₫ (Bốn mươi ba triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng). Do đó hành vi của Trần Đăng M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” được quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự.

Vì vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Ngoài hành vi cho 09 người vay và bị truy tố, Trần Đăng M còn cho 07 người khác vay số tiền 61.000.000đ. Tuy nhiên những người này vay tiền của bị cáo không có mặt tại địa phương nên không làm việc được do đó không đủ cơ sở để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đối với việc cho những người này vay tiền. Vì vậy việc không truy tố bị cáo đối với các khoản vay của 07 người trên cũng như việc tách ra để giải quyết bằng vụ án khác là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo

Hành vi mà bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, Ngân hàng, ảnh hưởng trật tự, trị an của xã hội. Hành vi đó làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã ra đầu thú thuộc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt: Cần áp dụng Điều 36 của Bộ luật Hình sự để buộc bị cáo phải cải tạo tại nơi cư trú dưới sự giám sát, quản lý của chính quyền địa phương để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Trong giai đoạn điều tra, bị cáo bị tạm giữ 09(chín) ngày, quy đổi thành 27(Hai mươi bảy ngày) cải tạo không giam giữ. Vì vậy khi quyết định hình phạt cần trừ cho bị cáo trong thời gian chấp hành án.

Bị cáo là người còn trẻ, có sức khỏe nên cần khấu trừ 20% thu nhập theo mức thu nhập bình quân tại địa phương để tăng cường sự giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã xác minh mức thu nhập bình quân hằng tháng trên địa bàn xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa là 61.200.000đ/người/năm.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vì mục đích hám lời, vì vậy cần căn cứ vào khoản 3 Điều 201 và khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bổ sung đối với bị cáo để tăng cường tính giáo dục và phòng ngừa chung.

[6] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

[6.1] Biện pháp tư pháp:

1. Xác định số tiền bị cáo sử dụng vào việc phạm tội:

Đối với số tiền bị cáo cho vay gồm: Cho anh Lê Tất T1 vay 2 lần với số tiền là 11.000.000đ; cho anh Nguyễn Ngọc D vay 04 lần với tổng số tiền là 25.000.000đ; cho anh Ngân T3 Đ vay 7.000.000đ; cho anh Bùi Văn M1 vay 5.000.000đ; cho anh Lê Đức H1 vay 5.000.000đ; cho anh Nguyễn Văn T2 vay 03 lần với tổng số tiền là 20.000.000đ; cho anh Bùi Văn P vay 5.000.000đ; cho anh Trần Văn V vay 03 lần với tổng số tiền là 15.000.000đ và cho anh Phan Hữu  vay 03 lần với tổng số tiền là 30.000.000₫ nhưng trong đó khoản vay ngày 06/6/2023 bị cáo cho vay không lãi và anh  đã trả lại số tiền này cho bị cáo, do đó số tiền phạm tội là 20.000.000₫

Vì vậy xác định số tiền bị cáo sử dụng vào việc phạm tội là 113.000.000₫ (một trăm mười ba triệu đồng) vì vậy cần phải tịch thu số tiền trên để nộp vào ngân sách nhà nước.

Trong quá trình cho vay, bị cáo đã thu được số tiền gốc gồm: Anh Lê Tất T1 đã trả được 5.000.000đ tiền gốc; anh Nguyễn Ngọc D đã trả được 21.000.000₫ tiền gốc; anh Trần Văn V đã trả được 10.000.000đ tiền gốc, tổng cộng số tiền gốc bị cáo đã thu được là 36.00.000đ. Tuy nhiên, số tiền gốc này sau khi thu được, bị cáo đã tiếp tục cho những người khác vay, vì vậy số tiền này đã nằm trong tổng số 113.000.000₫ (một trăm mười ba triệu đồng) bị cáo đã dùng cho vay lãi nặng, do đó không truy thu số tiền này của bị cáo là phù hợp.

Đối với số tiền hiện tại những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang vay của bị cáo nhưng chưa thanh toán là 77.000.000đ (gốc cho vay 113.000.000₫ – 36.000.000đ đã thanh toán gốc) cần truy thu của những người này để nộp vào ngân sách nhà nước.

2. Xử lý đối với số tiền lãi bị cáo đã nhận được từ những người vay:

2.1. Đối với số tiền lãi trong mức lãi xuất mà pháp luật cho phép (20%/năm):

Trong khi thực hiện hành vi cho vay lãi nặng, bị cáo đã nhận được từ người vay số tiền lãi là 48.900.000₫ (Bốn mươi tám triệu chín trăm nghìn đồng), trong đó số tiền tối đa theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự là 5.050.000đ (Năm triệu không trăm năm mươi nghìn đồng), tuy nhiên số tiền lãi này sau khi thu được từ những người vay, bị cáo tiếp tục dùng vào việc cho những người khác vay sau đó. Vì vậy không truy thu số tiền này của bị cáo vì đã nằm trong số tiền gốc hiện đang cho người có quyền lợi, nghĩa vụ trong vụ án vay.

6.2. Đối với số tiền lãi bị cáo đã thu của những người vay là 43.850.000₫ (Bốn mươi ba triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) vượt quá quy định của pháp luật, đây là số tiền bị cáo chiếm đoạt trái phép của người vay, tuy bị cáo cũng đã sử dụng vào việc cho những người khác vay, nhưng bị cáo vẫn phải trả lại cho những người bị cáo đã thu lãi. Vì vậy cần phải buộc bị cáo phải trả lại cho người đã trả lãi là đúng quy định của pháp luật.

[6.2] Xử lý vật chứng:

1. Đối với chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo xác định bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội, vì vậy cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

2. 16(mười sáu) giấy vay tiền do các cá nhân vay viết khi vay tiền được đánh số bút lục và lưu trong hồ sơ vụ án.

4. Khẩu súng săn và con dao thu giữ được tại nhà bị cáo xác định đây là vũ khí thô sơ và đã được xử lý bằng quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố Trần Đăng M phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt Trần Đăng M 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa nhận được quyết định thi hành án nhưng được trừ đi 09 (chín) ngày tạm giữ, quy đổi thành 27 (Hai mươi bảy) ngày cải tạo không giam giữ.

Giao Trần Đăng M cho UBND xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Khấu trừ thu nhập hàng tháng của Trần Đăng M 1.020.000đ/1 tháng trong suốt thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Xử phạt bổ sung Trần Đăng M 35.000.000₫(Ba mươi lăm triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.

2. Biện pháp tư pháp

2.1. Truy thu số tiền 77.000.000 đồng (Bảy mươi bảy triệu đồng) là số tiền gốc của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vay chưa trả cho bị cáo để nộp vào ngân sách nhà nước gồm:

  • - Truy thu của anh Lê Tất T1, sinh năm 2005. Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số tiền: 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).
  • - Truy thu của anh Nguyễn Ngọc D, sinh năm 2005. Địa chỉ: thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).
  • - Truy thu của anh Ngân Tiến Đ, sinh năm 2005. Địa chỉ: thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số tiền: 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).
  • - Truy thu của anh Bùi Văn M1, sinh năm 1997. Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số tiền: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
  • - Truy thu của anh Lê Đức H1, sinh năm 1986. Địa chỉ: thôn Y, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số tiền: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
  • - Truy thu của anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1985. Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số tiền: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
  • - Truy thu của anh Bùi Văn P, sinh năm 2004. Địa chỉ: thôn Đ, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số tiền: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
  • - Truy thu của anh Trần Văn V, sinh năm 1995. Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số tiền: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
  • - Truy thu của anh Phan Hữu Â, sinh 1992. Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số tiền: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

2.3. Buộc Trần Đăng M phải trả lại số tiền lãi vượt quá quy định của pháp luật mà bị cáo đã chiếm đoạt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là 43.850.000₫ (Bốn mươi ba triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) cụ thể gồm:

  • - Trả cho anh Lê Tất T1, sinh năm 2005. Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số tiền: 6.366.667 đồng (Sáu triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
  • - Trả cho anh Nguyễn Ngọc D, sinh năm 2005. Địa chỉ: thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số tiền 6.433.333 đồng (Sáu triệu bố trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
  • - Trả cho anh Ngân Tiến Đ, sinh năm 2005. Địa chỉ: thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số tiền: 2.366.667 đồng (hai triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
  • - Trả cho anh Bùi Văn M1, sinh năm 1997. Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số tiền: 2.750.000 đồng (Hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
  • - Trả cho anh Lê Đức H1, sinh năm 1986. Địa chỉ: thôn Y, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số tiền: 516.667 đồng (Năm trăm mười sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy).
  • - Trả cho anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1985. Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số tiền: 7.683.334 đồng (Bảy triệu sáu trăm tám mươi ba nghìn ba trăm ba mươi tư đồng).
  • - Trả cho anh Bùi Văn P, sinh năm 2004. Địa chỉ: thôn Đ, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số tiền: 3.583.333 đồng(Ba triệu năm trăm tám mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
  • - Trả cho anh Trần Văn V, sinh năm 1995. Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số tiền: 2.150.000 đồng (Hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
  • - Trả cho anh Phan Hữu Â, sinh 1992. Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số tiền: 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).

3. Xử lý vật chứng:

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG M52, màu nâu, số IMEI 1: 353041900529980, IMEI 2: 3585286600529981, gắn 02 sim V1 đã qua sử dụng của Trần Đăng M. (Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/10/2023 giữa Chi cục THA DS huyện N, tỉnh Thanh Hóa và Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa).

4. Về án phí:

Buộc Trần Đăng M phải nộp 200.000₫(Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo:

Án xử công khai có mặt bị cáo, vắng mặt toàn bộ những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Những người có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND huyện Nông Cống;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Công an huyện Nông Cống;
  • - Chi cục THADS Nông Cống;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Lưu hồ sơ, lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Kỳ Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG TỈNH THANH HÓA về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (usury)

  • Số bản án: 69/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Usury)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Đăng M phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger