TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KAN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2024/HS - ST Ngày 26/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Thu
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Vũ Đình Hưng;
2/ Ông Vũ Anh Đức.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sơn – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Mai Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2024/TLST - HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nông Văn T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 27 tháng 3 năm 1985 tại Bắc Kạn; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nông Trọng Q và bà: Đặng Thị L; vợ: Nông Thị X (Đã ly hôn); con: Có 01 con sinh năm 2008.
Tiền án: 03 tiền án.
- Ngày 30/10/2015, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, phạt bổ sung 5.000.000 đồng (hiện chưa thi hành xong số tiền phạt 4.620.000₫ đồng).
- Ngày 20/9/2018, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 17/6/2021, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 32 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 02/9/2023 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B từ ngày 15/5/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Đình T1 – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt.
* Người bị hại: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn Ph, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 00 sáng ngày 14/5/2024, Nông Văn T một mình đón xe khách từ nhà thuộc thôn T, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn đi ra thành phố B, tỉnh Bắc Kạn để chơi. Đến nơi, T đi bộ từ bến xe khách tỉnh Bắc Kạn đến Cơ sở điều trị M thuộc tổ I, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn để tìm mua ma túy sử dụng, đến khoảng 09 giờ 00 phút, T đi vệ sinh ở khu vực ngõ phía sau cạnh cơ sở điều trị M thuộc tổ P, phường H, thành phố B thì thấy có 01 (Một) ngôi nhà bỏ hoang, không có người ở (thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1978, trú tại thôn P, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn), T đi vào phía trong ngôi nhà thì thấy có nhiều thanh nẹp bằng kim loại (nhôm). Sau đó, T quay lại cổng Cơ sở điều trị Methadone để uống nước đến 11 giờ 00 phút cùng ngày, T đi bộ ra bến xe khách tỉnh Bắc Kạn để đón xe về nhà, tuy nhiên không đón được xe do không có tiền. Lúc này, T nảy sinh ý định quay lại căn nhà bỏ hoang của ông Nguyễn Văn C để trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu sài và để đi xe khách về nhà. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, T đi bộ quay lại đến khu vực nhà bỏ hoang của ông C, sau khi quan sát xung quanh không có ai T đi vào phía trong ngôi nhà rồi dùng tay gỡ những thanh kim loại ra, bẻ gọn và dùng dây leo buộc thành bó, cho vào bao tải (T nhặt ở đó) rồi đi tìm nơi tiêu thụ. Khi đang trên đường mang tài sản đi tiêu thụ thì T bị tổ công tác của Công an phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn phát hiện, kiểm tra, đưa về trụ sở để làm việc đồng thời tiến hành cân xác định trọng lượng bó kim loại Thuyên trộm cắp có trọng lượng 13,5 kg.
Ngày 15/5/2024, Công an phường N, thành phố B bàn giao hồ sơ, tang vật và đối tượng cho Cơ quan CSĐT - Công an thành phố B để giải quyết theo thẩm quyền. Tại Cơ quan điều tra, Nông Văn T đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 60 ngày 17/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 13,5 (Mười ba phẩy năm) kg kim loại nhôm (dùng trong xây dựng nhà, công trình) có giá trị là 13.5kg x 30.000đ = 405.000₫ (Bốn trăm linh năm nghìn đồng).
Tuy giá trị tài sản Nông Văn T trộm cắp dưới 2 triệu đồng nhưng bị cáo đã hai lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, cụ thể: Ngày 20/9/2018, bị can bị Toà án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 17/6/2021 lại tiếp tục bị TAND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 32 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, ngày 02/9/2023 T chấp hành xong hình phạt tù, tính đến ngày T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản lần này vào ngày 14/5/2024 thì T chưa được xóa án tích đối với cả hai bản án nêu trên, nên hành vi của T đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
* Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn C đã được nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường về dân sự.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nông Văn T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.
Tại Bản Cáo trạng số 54/CT – VKSTPBK ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Nông Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
- a) .....
- b) Đã bị kết án về tội này...., chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
- .....
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Tại phiên toà:
- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nông Văn T từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 15/5/2024.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo thuộc hộ nghèo, là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là “phạt tiền” đối với bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Người bị hại ông Nguyễn Văn C đã được nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường về dân sự. Do vậy đề nghị HĐXX không xem xét.
Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo và đã có đơn xin miễn án phí. Do vậy đề nghị miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Bị cáo Nông Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
- Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo như đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc diện hộ nghèo, tài sản trộm cắp có giá trị không lớn nên đề nghị HĐXX xem xét quyết định mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện kiểm sát đồng thời miễn án phí cho bị cáo.
- Người bị hại ông Nguyễn Văn C vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đó xác nhận ông đã được trả lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu bị cáo Nông Văn T bồi thường về dân sự. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị HĐXX xem xét theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Nông Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án do vậy có căn cứ xác định:
Trong khi đang có 02 tiền án về tội “trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích thì ngày 14/5/2024 tại tổ P, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, Nông Văn T có hành vi trộm cắp 13,5kg kim loại nhôm (dùng trong xây dựng nhà, công trình), có giá trị 405.000 đồng (Bốn trăm linh năm nghìn đồng) của gia đình ông Nguyễn Văn C, trú tại thôn P, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Khi T đang đi tìm nơi tiêu thụ tài sản thì bị Công an phường N, thành phố B phát hiện, kiểm tra, thu giữ tang vật. Sau đó, Công an phường N chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố B để giải quyết theo thẩm quyền.
Mặc dù, Nông Văn T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2.000.000đ (hai triệu đồng). Nhưng trước đó, Nông Văn T đã có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xoá án tích nên hành vi trộm cắp tài sản ngày 14/5/2024 của Nông Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do vậy, cần phải xử lý theo pháp luật hình sự.
[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu: Năm 2015, bị Toà án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; năm 2018 bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; năm 2021 bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 32 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 02/9/2023 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, chưa được xóa án tích thì đến ngày 14/5/2024 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nêu trên. Như vậy bị cáo đã bị xét xử và đi chấp hành án nhiều lần nhưng vẫn không rút ra được bài học cho mình, không chịu tu dưỡng, rèn luyện thành công dân có ích cho xã hội mà vẫn tiếp tục phạm tội. Qua đó thể hiện bị cáo là đối tượng khó giáo dục, cải tạo, không có ý thức chấp hành pháp luật, cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 58/2015/HSST ngày 30/10/2015 của Toà án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, chưa được xoá án tích do chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn (tài sản trộm cắp trị giá 405.000 đồng); trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có ông nội là ông Nông Văn H được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành một mức hình phạt tù nghiêm khắc mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo thuộc diện hộ nghèo, bản thân bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là “phạt tiền” đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã được nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bị cáo Nông Văn T bồi thường về dân sự do vậy HĐXX không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ: 13,5 kg kim loại nhôm, đều đã qua sử dụng, đây là tài sản của ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1978, trú tại thôn P, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Xét thấy, việc trả lại tài sản không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Cơ quan CSĐT - Công an thành phố B đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp ông Nguyễn Văn C là đúng quy định.
[8] Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo và đã có đơn xin miễn án phí do đó cần miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự và án phí đối với bị cáo là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nông Văn T 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 15/5/2024.
2. Về án phí: Căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12; Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nông Văn T.
3. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nguyệt Thu |
Bản án số 69/2024/HS - ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 69/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nông Văn Th phạm tội "Trộm cắp tài sản"
