|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 26-8-2024
V/v: Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Lệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Ngọc Hà và ông Nguyễn Hữu Chính
- Thư ký phiên tòa: Ông Phí Hoàng Tuấn – Thư ký của Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông K’Dem - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 214/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Vũ Thị L, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn E, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Bị đơn: Ông Đoàn Xuân T, sinh năm 1998. Địa chỉ: Thôn E, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24 tháng 5 năm 2024, trong quá trình tố tụng và tại phiên toà nguyên đơn bà Vũ Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đoàn Xuân T kết hôn ngày 13-12-2020, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau, bà yêu cầu ly hôn ông Đoàn Xuân T. Việc ly hôn bà đã suy nghĩ kỹ và tự nguyện.
Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là Đoàn Thị Thanh X, sinh ngày 01-6-2002; Đoàn Văn T1, sinh ngày 01-01-2005 và Đoàn Anh T2, sinh ngày 19-3-2012. Hiện nay Đoàn Thị Thanh X và Đoàn Văn T1 đều đã thành niên, có khả năng lao động và có tài sản để tự nuôi mình, khi ly hôn không yêu cầu giải quyết. Khi ly hôn bà Vũ Thị L yêu cầu giao con chung Đoàn Anh T2 cho bà Vũ Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông Đoàn Xuân T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Tài sản chung vợ chồng đã tự thỏa thuận giải quyết, tài sản nợ chung, nợ riêng: đều không có. Khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
Ngoài ra, bà Vũ Thị L không có yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa bị đơn ông Đoàn Xuân T vắng mặt không rõ lý do. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi và niêm yết Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà nhưng ông Đoàn Xuân T đều vắng mặt, nên Tòa án không lấy lời khai của ông Đoàn Xuân T được.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay. Đại điện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận cho bà Vũ Thị L và ông Đoàn Xuân T ly hôn. Về con chung: Giao con chung là Đoàn Anh T2, sinh ngày 19-3-2012 cho bà Vũ Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, ông Đoàn Xuân T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản không xem xét giải quyết. Buộc bà Vũ Thị Lê p chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Vũ Thị L có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Đoàn Xuân T. Ông Đoàn Xuân T hiện đang cư trú tại huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Tại phiên tòa bị đơn ông Đoàn Xuân T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Di Linh và Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Bà Vũ Thị L và ông Đoàn Xuân T tự nguyện kết hôn ngày 13-12-2020, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Vũ Thị L và ông Đoàn Xuân T là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, quan hệ vợ chồng của ông, bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng và mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, việc bà Vũ Thị L yêu cầu được ly hôn với ông Đoàn Xuân T là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự, bản sao giấy khai sinh, có cơ sở xác định bà Vũ Thị L và ông Đoàn Xuân T có ba con chung là Đoàn Thị Thanh X, sinh ngày 01-6-2002; Đoàn Văn T1, sinh ngày 01-01-2005 và Đoàn Anh T2, sinh ngày 19-3-2012. Hiện nay Đoàn Thị Thanh X và Đoàn Văn T1 đều đã thành niên, có khả năng lao động và có tài sản để tự nuôi mình, khi ly hôn không yêu cầu giải quyết. Khi ly hôn bà Vũ Thị L yêu cầu giao con chung Đoàn Anh T2 cho bà Vũ Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông Đoàn Xuân T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, nguyện vọng của Đoàn Anh T2 là được sống cùng với mẹ, cần ổn định cuộc sống của con chung; bà Vũ Thị Lê đ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, nên cần giao con chung Đoàn Anh T2 cho bà Vũ Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, ông Đoàn Xuân T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Tài sản chung; Tài sản nợ chung; Tài sản nợ riêng bà Vũ Thị L xác định đều không có. Khi ly hôn không yêu cầu giải quyết về tài sản, nên không xem xét giải quyết về tài sản.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[4] Về án phí: Bà Vũ Thị Lê c án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 56 và Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 và Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị L và ông Đoàn Xuân T ly hôn.
- Về con chung: Giao con chung Đoàn Anh T2, sinh ngày 19-3-2012 cho bà Vũ Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, ông Đoàn Xuân T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Quyền, nghĩa vụ thăm nom con; thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; thay đổi mức cấp dưỡng của các đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Bà Vũ Thị Lê p chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0005884 ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh. Bà Vũ Thị L đã nộp đủ án phí.
- Quyền kháng cáo: Bà Vũ Thị L có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Đoàn Xuân T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Bản án này được thi hành ngay theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 2 Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Huỳnh Thị Mỹ Lệ |
Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa bà Vũ Thị L và ông Đoàn Xuân T
