|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 69/2024/HS-ST Ngày: 26/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T – TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Châu Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thành Lam
2. Bà Lê Thị Chúc Ngân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Thị Khuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Ông Lê Trần Thọ - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại Hội trường – A – Tòa án nhân dân huyện T tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2024/TLST - HS ngày 28 tháng 3 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Bùi Tiến A; Giới tính: Nam; Năm sinh 2004, tại: Đồng Nai; Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Tày Mường; giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên cha: Bùi Văn T, sinh năm 1977 và họ tên mẹ: Trần Xuân O, sinh năm 1975; Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 06 anh chị em; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện T từ ngày 03/12/2023 (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 03/12/2023, tại khu dân cư ấp N, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Công an xã Q, huyện T qua kiểm tra, bắt quả tang Bùi Tiến A có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, cụ thể:
Vào lúc 15 giờ chiều ngày 03/12/2023, Bùi Tiến A dùng điện thoại di động hiệu nokia màu xanh gắn sim số 0399 385 300 gọi điện tới đối tượng có tên Đăng (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua ma túy đá với số tiền 500.000 đồng và hẹn giao ma túy ở đoạn đường dân cư kiểu mẫu ở ấp N, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Bùi Tiến A điều khiển xe mô tô hiệu Wave (không biển số) đi từ nhà ở Ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai đến địa điểm đã hẹn. Tại đây Bùi Tiến A đưa cho đối tượng Đ số tiền 500.000 đồng, lấy về 01 túi nylon chứa ma túy đá, Bùi Tiến A cầm túi ma túy kể trên trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Khi Bùi Tiến A đang dừng xe bên lề đường khu dân cư ấp N, xã Q, huyện T tỉnh Đồng Nai thì bị Công an xã Q, huyện T kiểm tra bắt quả tang cùng tang vật.
Kết luận giám định số 2695/KLGĐ-PC09 ngày 11 tháng 12 năm 2023 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 0,4308 gam, loại: Methamphetamine.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì đối với Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Đồng Nai và thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như Cáo trạng truy tố.
Tại Bản cáo trạng số 42/CT.VKS-TN ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Bùi Tiến A, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Tòa án tuyên: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định là 0,3909 gam ma túy methamphetamine được niêm phong số 2695/KL-KTHS của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai hoàn lại theo Kết luận giám định số: 2695/KL-KTHS ngày 11/12/2023.
Tịch thu sung công 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu nokia màu xanh gắn sim số 0399385300 của Bùi Tiến A sử dụng để liên lạc để mua ma túy.
Đối với 01 xe mô tô Honda Wave (không gắn biển số, số máy: VKV1P52FMHD801744, số khung: RMKWCH8UM5K8011744). Qua xác minh là tài sản của anh Huỳnh Thế A, sinh năm 1993.
* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đồng thời, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Tiến A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:
Vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 03/12/2023, tại khu dân cư ấp N, xã Q, huyện T tỉnh Đồng Nai, Công an xã Q kiểm tra, bắt quả tang Bùi Tiến A có hành vi tàng trữ trái phép 0,4308 gam ma túy, loại: Methamphetamine, xử lý theo quy định.
Như vậy hành vi của bị cáo cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, bản Cáo trạng số 42/CT-VKS-TN ngày 25/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi bị cáo thực hiện thì thấy: Hành vi bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của bản thân chính bị cáo, đồng thời gây ra cho xã hội những thiệt hại phi vật chất không thể cân đo, đong đếm được và còn là nguyên nhân của các loại tội phạm khác, đe dọa nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện, điều đó cho thấy lỗi cố ý trong hành vi phạm tội của bị cáo. Hành vi của bị cáo đã đi ngược lại với mọi hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật, với chủ trương, chính sách của Nhà nước về ngăn chặn, đẩy lùi, xoá bỏ tệ nạn ma tuý trong nhân dân. Vì vậy cần phải có một mức án tương xứng với hành vi bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo chấp hành nghiêm pháp luật và răn đe phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân: Bị cáo nghiện ma túy, đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hành vi phạm tội. Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
[5.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7 Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì chứa 0,3909 gam ma túy methamphetamine được hoàn lại sau giám định - niêm phong số 2695/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.
- 01 điện thoại di động hiệu nokia màu xanh gắn sim số 0399 385 300 của Bùi Tiến A dùng vào việc liên lạc với đối tượng có tên “Đăng” nhằm mục đích mua trái phép chất ma túy, cần tịch thu sung công.
- 01 xe mô tô Honda Wave (không gắn biển số, số máy: VKV1P52FMHD801744, số khung: RMKWCH8UM5K8011744). Qua xác minh là tài sản của anh Huỳnh Thế Anh sinh năm 1993, trú tại ấp Bến Nôm 1, xã Phú Cường, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Cơ quan điều tra Công an huyện T đã trao trả cho anh Huỳnh Thế Anh là đúng quy định.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Tiến A phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Bùi Tiến A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/12/2023.
Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì chứa 0,3909 gam ma túy methamphetamine được hoàn lại sau giám định - niêm phong số 2695/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.
Tịch thu sung công 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh gắn sim số 0399 385 300 của Bùi Tiến A.
(Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/3/2024 giữa Viện kiểm sát nhân dân huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện T).
Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Bùi Tiến A phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Châu Ngọc Hà |
Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T – TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 69/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T – TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Tiến A - Tàng trữ trái phép chất ma túy
