Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM THÀNH

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/HSST

Ngày: 25/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích

Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu và ông Phạm Văn Toán.

Thư ký phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Ông Đinh Quốc Cường – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

Thư ký phiên tòa tại điểm cầu thành phần: Ông Vũ Quang L – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Bà Lê Thị Vui – Kiểm sát viên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Duy Đ - Kiểm sát viên.

Ngày 25/9/2024, Tòa án nhân dân huyện Kim Thành mở phiên tòa công khai, theo hình thức trực tuyến để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 66/2024/HSST ngày 10/9/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2022/QĐXXST-HS ngày 13/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành đối với bị cáo:

Nguyễn Tiến P - sinh năm 2000. Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: thôn L, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 6/12; nghề nghiệp: Không; con ông: Nguyễn Tiến H - sinh năm 1979 và bà Đồng Thị P1 - sinh năm 1980; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án: Tại bản án số 338/2020/HS-ST ngày 06/7/2020, Nguyễn Tiến P bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 16/02/2023, P chấp hành xong hình phạt tù của bản án.

Tiền sự: Tại quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 19/QĐ-TA ngày 04/6/2024, Nguyễn Tiến P bị Tòa án nhân dân huyện Kim Thành quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H từ ngày 04/7/2024 đến nay. Có mặt.

* Bị hại:

  1. Cháu Vũ Thu T, sinh ngày 19/8/2008. Đại diện hợp pháp của người bị hại T: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1963. Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
  2. Ông Phạm Văn S, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1956. Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương. Ông S đã ủy quyền cho bà B tham gia tố tụng. Vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Lê Thị Thu H2 – Trợ giúp viên pháp lý. Có mặt.

* Người làm chứng:

  1. Chị Đỗ Thị T1, sinh năm 1974. Địa chỉ: Thôn H, Hồ N, huyện A, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
  2. Nguyễn Hữu Đ1, sinh năm 1997. Địa chỉ: Thôn H, Hồ N, huyện A, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 19/6/2024, Nguyễn Tiến P đi bộ lang thang quanh thôn L, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương, mục đích xem nhà ai có tài sản để sơ hở thì trộm cắp đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến cổng nhà bà Nguyễn Thị H1 - sinh năm 1963, P quan sát thấy cổng nhà bà H1 mở, chiếc xe máy nhãn hiệu ESPERO, biển số 34AS-259.35 của cháu Vũ Thu T (con gái bà H1) - sinh ngày 19/8/2008 dựng ở sân không có người trông giữ, chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa điện, P đã trộm cắp chiếc xe trên. Khi đang đi về khu vực thôn H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng để tìm nơi tiêu thụ thì chiếc xe máy P trộm cắp được bị hết xăng, P vào cửa hàng cắt may quần áo của bà Đỗ Thị T1 - sinh năm 1974, trú tại: thôn H, xã H gửi xe tại đây rồi đi bộ để tìm nơi tiêu thụ chiếc xe máy trên nhưng không tìm được nên P đi bộ về nhà. Ngày 20/6/2024, P bị Công an xã K, huyện K phối hợp với Công an xã L, huyện K đưa đi cai nghiện bắt buộc theo Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 19/QĐ-TA ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành. Sáng ngày 21/6/2024, bà Nguyễn Thị H1 đến Công an xã L trình báo về việc nghi ngờ Nguyễn Tiến P thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe máy biển số 34AS-259.35 của cháu T. Hồi 14 giờ cùng ngày, công an xã L tiến hành ghi lời khai của P, P đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Sau đó, công an xã L đã tiến hành quản lý chiếc xe máy biển số 34AS-259.35 do bà Đỗ Thị T1 tự nguyện giao nộp.

Quá trình điều tra bị cáo P tự thú về hành vi: Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 01/6/2024, Nguyễn Tiến P đi bộ vào nhà ông Phạm Văn S - sinh năm 1957, trú tại: thôn L, xã L (là hàng xóm của P) xin ông S nước uống. Trong lúc ngồi uống nước, P quan sát thấy trong nhà ông S có dựng chiếc xe máy loại Airblade, biển số 34B1-868.01 của gia đình ông S, chìa khóa xe đang cắm ở ổ khóa điện. Sau khi P uống nước xong. P ra khỏi nhà ông S và đi đến ngôi mộ gần đó ngồi quan sát. Khoảng 20 phút sau, P thấy ông S điều khiển xe máy loại Dream đi khỏi nhà. P liền đi bộ quay lại nhà ông S, mục đích để trộm cắp tài sản của gia đình ông S lấy tiền tiêu xài cá nhân thì thấy, nhà ông S mở cổng, P đi vào trong sân thấy cửa ra vào nhà ông S được làm bằng gỗ và khóa bên ngoài, P nhặt 1/2 viên gạch làm bằng đất nung ở gần đó đập mạnh vào khóa cửa làm vỡ phần gỗ tại vị trí gắn khuy cài cửa, khuy cửa bị bật ra khỏi cánh cửa. P mở cửa đi vào trong nhà thấy chiếc xe máy biển số 34B1-868.01 vẫn đang dựng trong nhà, chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa điện nên đã chiếm đoạt tài chiếc xe trên. Trên đường đi, P dừng xe lại và mở cốp xe vừa trộm cắp được ra kiểm tra thấy bên trong có 01 giấy đăng ký của xe mang tên ông Phạm Văn S. Khoảng 16 giờ cùng ngày, P điều khiển chiếc xe máy trên đến hiệu cầm đồ “Lộc Phúc” của anh Nguyễn Hữu Đ1 - sinh năm 1997, trú tại: thôn H, xã H, huyện A đem cầm cố chiếc xe trộm cắp được cùng giấy đăng ký xe và căn cước công dân của P cho anh Đ1 được số tiền 4.500.000 đồng, P nói dối anh Đ1 chiếc xe máy trên là của P. Khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, ông S về nhà phát hiện chiếc xe máy biển số 34B1-868.01 bị mất, ông S nhờ mọi người đi tìm, sau đó phát hiện chiếc xe máy này đang được cầm cố tại hiệu cầm đồ “Lộc Phúc” của anh Đ1. Ngày 05/6/2024, ông S đến hiệu cầm “Lộc Phúc” và chuộc chiếc xe cùng giấy đăng ký xe mà P đã cầm cố cho anh Đ1 với số tiền chuộc xe là 4.500.000 đồng.

Tại bản Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K ngày 27/6/2024 kết luận: chiếc xe máy nhãn hiệu ESPERO, biển số 34AS-259.35 trị giá 8.000.000 đồng; Tại bản Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K ngày 02/8/2024 kết luận: chiếc xe máy loại Airblade, biển số 34B1-868.01 trị giá 15.000.000 đồng

Tại bản Cáo trạng số 65/CT- VKS ngày 09/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành đã truy tố bị cáo Nguyễn Tiến P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, xác định VKSND huyện Kim Thành truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Đại diện VKSND huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự, đề nghị HĐXX tuyên bố Nguyễn Tiến P phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến P từ 21 đến 24 tháng tù. Ngoài ra, quan điểm của VKS còn đề nghị HĐXX xem xét giải quyết về án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với diễn biến hành vi phạm tội mà các bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và phù hợp khách quan với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận: Vào ngày 01/6/2024, Lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, Nguyễn Tiến P đã phá khóa cửa vào trong nhà ông Phạm Văn S lấy của gia đình ông S chiếc xe máy loại Airblade, biển số 34B1-868.01 trị giá 15.000.000 đồng; ngày 19/6/2024, Nguyễn Tiến P lấy của cháu Vũ Thu T chiếc xe máy nhãn hiệu ESPERO, biển số 34AS-259.35 trị giá 8.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản P chiếm đoạt là 23.000.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội Trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là trái pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội với mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác để tiêu xài cá nhân nên cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma tuý đã bị TAND huyện Kim Thành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 19/QĐ-TA ngày 04/6/2024 với thời gian 18 tháng.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện 02 hành vi trộm cắp tài sản, mỗi lần phạm tội đều cấu thành tội phạm một cách độc lập nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “ phạm tội 2 lần trở lên”. Ngoài ra, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai kết án về hành vi Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”. Vì vậy, bị cáo phải chịu 2 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn, thực sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra, sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 19/6/2024, bị cáo đã tự thú về hành vi phạm tội ngày 01/6/2024 khi chưa bị phát hiện, bị cáo được người bị hại Vũ Thu T và người đại diện hợp pháp cho người bị hại là chị Nguyễn Thị H1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại T và gia đình đã nhận lại tài sản do bị cáo chiếm đoạt và tự nguyện không yêu cầu P phải bồi thường thiệt hại. Ông S và gia đình tự nguyện cho P số tiền 4.500.000 đồng mà ông dùng chuộc lại xe máy, không yêu cầu P phải bồi thường gì. Vì vậy, không đặt ra việc xem xét giải quyết.

[6] Trong vụ án này, đối với anh Nguyễn Hữu Đ1 khi nhận cầm cố chiếc xe máy biển số 34B1-868.01 và bà Đỗ Thị T1 khi cho P gửi chiếc xe máy biển số 34AS-259.35, anh Đ1 và bà T1 đều không biết đó là tài sản do P phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không đặt ra việc xử lý là phù hợp.

[7] Đối với 1/2 viên gạch P sử dụng phá cửa nhà ông S, sau đó ông S đã vứt đi và thẻ căn cước công dân của P, anh Đ1 đã làm mất, đến nay không thu giữ được nên không đặt ra xem xét trong vụ án này.

[8] Án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 331; Điều 333 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến P 2 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 04/7/2024.
  3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Tiến P phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND huyện Kim Thành;
  • - CQCSĐT-CA huyện Kim Thành;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an huyện Kim Thành;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Kim Thành;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Bị cáo; bị hại; người đại diện hợp pháp cho bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Ngọc Bích

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HSST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 69/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tiến Ph tộm trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger