Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI

Bản án số: 69/2024/HSST

Ngày: 25-7-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Thanh Minh

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Hạ Tuấn

+ Ông Đặng Viết Côi

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại toà án nhân dân huyện Ứng Hoà, TP xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2024/HSST ngày 04/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-HS ngày 12/7/2024 đối với bị cáo:

1. Nguyễn Văn H - sinh năm: 2000, Nơi ĐKHKTT và nơi ở thôn T, xã M, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 06/12; con ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị S; có vợ là Triệu Mùi P – sinh năm: 2003; có 01 con, sinh năm 2021. Tiền án, Tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/5/2024 đến ngày 14/5/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Ứ, thành phố Hà Nội. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

2. Vũ Văn T – sinh năm: 1987; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: thôn T, xã M, huyện Ứ, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; con ông Vũ Duy T1 và bà Lê Thị T2; có vợ là Dương Thị N – sinh năm: 1990; có 04 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2023. Tiền án, Tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/5/2024 đến ngày 14/5/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Ứ, thành phố Hà Nội. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

3. Hoàng Đình H1 – sinh năm: 1986; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: tiểu khu Đ, thị trấn P, huyện P, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; con ông Hoàng Mạnh H2 và bà Vũ Thị T3; có vợ là Nguyễn Thị P1 – sinh năm: 1987; có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2018. Tiền án, Tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/4/2024 đến ngày 15/4/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Ứ, thành phố Hà Nội. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

4. Nguyễn Văn T4– sinh năm: 1991; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: thôn E, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; con ông Nguyễn Văn S1 (Đã chết) và bà Phạm Thị M1; có vợ là Lê Thùy L – sinh năm: 1990; có 02 con: lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014. Tiền án, Tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/5/2024 đến ngày 14/5/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Ứ, thành phố Hà Nội. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

5. Nguyễn Văn T5 – sinh năm: 1991; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: thôn T, xã M, huyện Ứ, thành phố Hà Nội. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; con ông Nguyễn Văn H3 (đã chết) và bà Lê Thị H4; có vợ là: Đặng Thị H5 – sinh năm: 1993; có 02 con, lớn sinh năm: 2013, nhỏ sinh năm: 2022. Tiền án, Tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/5/2024 đến ngày 14/5/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Ứ, thành phố Hà Nội. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 11/5/2024, Nguyễn Văn T4; Hoàng Đình H1, Vũ Văn T và Nguyễn Văn T5 đến nhà Nguyễn Văn H uống rượu sinh nhật H. Uống rượu xong, tất cả rủ nhau đánh “Liêng” được thua bằng tiền, mọi người đồng ý thì H lấy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân có sẵn trên bàn uống nước đặt xuống chiếu và bắt đầu chơi. Các đối tượng đánh liêng với hình thức: Sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân chia cho mỗi người chơi 03 quân bài. Quy định đánh gom 10.000 đồng, tố cao nhất 50.000 đồng, khi chỉ còn hai người chơi thì tố cao nhất là 100.000 đồng. Bắt đầu chơi đánh theo vòng tay phải, người chơi có thể lựa chọn “úp bài” để bỏ ván chơi hiện tại và sẽ mất số tiền đã gom hoặc chọn “theo” để tiếp tục chơi, nếu như có người tố trước đó thì khi theo người chơi sẽ phải bỏ thêm tiền bằng số tiền người chơi trước đã tố xuống chiếu. Ván chơi kết thúc khi chỉ còn một người không úp bài hoặc không ai tố thêm tiền nữa. Nếu mọi người chơi vẫn còn bài mà không ai tố thêm thì sẽ ngửa bài để so từ bé đến lớn là điểm, ảnh, liêng, đồng hoa, sáp. “Điểm” được cộng từ số của 03 quân bài, điểm cao nhất là 9, thấp nhất là 0, quân A tính là 1 điểm, quân 10, J, Q, K tính là 0 điểm; “ảnh” là 3 quân bài đều có hình người như J, Q, Q; K,Q,Q...; “Liêng” là có 3 quân liên tiếp nhau không cần cùng chất, liêng bé nhất là A, 2, 3; liêng to nhất là Q, K, A; “liêng đồng hoa” là trường hợp liêng cùng chất như 1,2,3 rô; 4,5,6 cơ...; “sáp” là 3 quân bài giống nhau, sáp bé nhất là 2,2,2; sáp to nhất là A,A,A. Người thắng cuộc sẽ được thu số tiền đã gom, theo và tố của ván chơi đó. Ai được sáp thì mỗi người chơi còn lại sẽ phải trả người đó 50.000 đồng, người được sáp bỏ ra 50.000 đồng cho chủ nhà; ai được liêng đồng hoa thì mỗi người chơi còn lại sẽ phải trả người đó 30.000 đồng, người được liêng đồng hoa bỏ ra 30.000 đồng cho chủ nhà gọi là tiền điện nước. Ván chơi tiếp theo sẽ tiếp tục gom và người thắng ở ván trước sẽ chia bài và được quyền tố đầu tiên.

Các đối tượng đánh bạc đến 15 giờ 00 phút cùng ngày thì bị Lực lượng Công an huyện Ứ kiểm tra bắt quả tang. Tổng số tiền đã chứng minh các bị cáo H, T4, H1, T và T5 sử dụng để đánh bạc là 13.450.000 đồng, trong đó thu trên chiếu 1.950.000 đồng và thu trên người các bị can 11.500.000 đồng. Nguyễn Văn H thu lời bất chính tổng số tiền 110.00 đồng, số tiền này Cơ quan điều tra đã thu giữ ngay tại chiếu bạc trong quá trình kiểm tra bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ:

- T6 tại chiếu bạc 01 bộ tú lơ khơ 52 quân có mặt sau màu đỏ và 1.950.000 đồng;

- Thu trên người Vũ Văn T 10.500.000 đồng, Hoàng Đình H1 1.000.000 đồng.

Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Bản cáo trạng số 66/CT-VKS ngày 03/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H; Vũ Văn T; Hoàng Đình H1; Nguyễn Văn T4; Nguyễn Văn T5 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm I, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn H, Vũ Văn T và Hoàng Đình H1 từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi. Đề nghị áp dụng dụng khoản 1 Điều 321, điểm I, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ Luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn T5 12 – 15 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 11/5/2024 đến ngày 14/5/2024. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo T4, T5. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ, có mặt sau màu đỏ. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 13.450.000 đồng.

Về án phí: các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Qúa trình tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đều thực hiện đúng, đầy đủ các qui định của pháp luật.

[2] Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Ngày 11/5/2024, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T4, Hoàng Đình H1, Vũ Văn T và Nguyễn Văn T5 đã có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức “Đánh liêng” tại nhà của H ở thôn T, xã M, huyện Ứ, thành phố Hà Nội. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 13.450.000 đồng;

Do vậy, hành vi nêu trên của các bị các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T4, Hoàng Đình H1, Vũ Văn T, Nguyễn Văn T5 đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là tuy ít nghiêm trọng nhưng gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm đối với các bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Xét vai trò của các bị cáo: các bị cáo tuy không bàn bạc, thống nhất phân chia chức năng nhiệm vụ với nhau từ trước khi chơi đánh bạc nhưng khi có người rủ thì tất cả đều đồng ý và cùng tham gia chơi do đó vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn theo quy định tại Điều 17 BLHS.

Các bị cáo H, T4, T5, T, H1 cùng có vai trò là người thực hiện. Bị cáo H tuy số tiền sử dụng vào việc đánh bạc ít hơn các bị cáo khác nhưng đã sử dụng nhà ở của mình cho các bị cáo chơi đánh bạc, nhận tiền điện nước do các bị cáo đưa và đã sử dụng số tiền này vào việc đánh bạc nên có vai trò chính. Bị cáo T, H1 và T4 tham gia với vai trò ngang nhau. Bị cáo T5 tham gia với số tiền ít nhất. Do đó, cần xem xét mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo.

[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được xem xét hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm I, s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ để giáo dục, răn đe đối với các bị cáo. Do đó, cần áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự về Cải tạo không giam giữ đối với bị cáo H, T. H1, T4; Áp dụng hình phạt tiền quy định tại Điều 35 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T5.

Các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn khấu trừ thu nhập đối với những bị cáo áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ và miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng: áp dụng Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 cần tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ có mặt sau màu đỏ là công cụ thực hiện hành vi phạm tội không có giá trị sử dụng. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền: 13.450.000 đồng dùng để đánh bạc.

[6] Về án phí: Mỗi Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm I, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H; Vũ Văn T, Nguyễn Văn T4, Hoàng Đình H1 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 09 (Chín) ngày cải tạo không giam giữ (thời gian tạm giữ từ ngày 11/5/2024 đến ngày 14/5/2024.).

Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 09 (Chín) ngày cải tạo không giam giữ (thời gian tạm giữ từ ngày 11/5/2024 đến ngày 14/5/2024.).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T4 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 09 (Chín) ngày cải tạo không giam giữ (thời gian tạm giữ từ ngày 11/5/2024 đến ngày 14/5/2024.).

Xử phạt bị cáo Hoàng Đình H1 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 09 (Chín) ngày cải tạo không giam giữ (thời gian tạm giữ từ ngày 11/5/2024 đến ngày 14/5/2024.).

- Thời gian cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T4, Hoàng Đình H1, Vũ Văn T tính từ ngày cơ quan thi hành án Hình sự cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

- Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T4, Hoàng Đình H1, Vũ Văn T.

- Giao bị cáo Nguyễn Văn H, Vũ Văn T cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện Ứ, TP . nơi các bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Hoàng Đình H1 cho Ủy ban nhân dân T7, huyện P, TP . nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Nguyễn Văn T4 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T4, Hoàng Đình H1, Vũ Văn T phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 99 Luật thi hành án hình sự; Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án Hình sự.

• Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm I, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T5 phạm tội “Đánh bạc”

Xử phạt Nguyễn Văn T5 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng)

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn T5, Vũ Văn T, Hoàng Đình H1.

2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ có mặt sau màu đỏ

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 13.450.000 đồng (Mười ba triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng)

(Vật chứng có tình trạng, đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Ứ, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa ngày 23/7/2024 và Theo ủy nhiệm chi ngày 17/7/2024)

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn T5, Vũ Văn T, Hoàng Đình H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - CA, VKS, THADS Ứng Hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thanh Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HSST ngày 25/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 69/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo H và đồng phạm phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger