|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25/7/2024 V/v "Ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hồng
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Quốc Vượng
2. Bà Phạm Thị Thanh Hương
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: ông Lê Nguyễn Khải Hoàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thành Thuỳ – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 07/2024/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QÐST-HNGĐ ngày 03/7/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 37/2024/QÐST – HPT ngày 17/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Tống Thị H, sinh năm 1977
Địa chỉ: tổ A, ấp C, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước.
- Bị đơn: anh Lê Vạn H1, sinh năm 1982
Địa chỉ: tổ D, ấp A, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước.
(Nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Tống Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị Tống Thị H và anh Lê Vạn H1 tự nguyện tìm hiểu và chung sống cùng nhau vào năm 2003, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm và lo lắng cho nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống căng thẳng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Tống Thị H yêu cầu được ly hôn với anh Lê Vạn H1.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Lê Tống Vạn H2 – sinh ngày 24/11/2003 và cháu Lê Tống Mỹ T – sinh ngày 31/07/2008. Khi ly hôn chị Tống Thị H yêu cầu được tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Tống Mỹ T, còn cháu Lê Tống Vạn H2 do đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị H chưa yêu cầu anh Lê Vạn H1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn Lê Vạn H1, đã được Toà án tống đạt, triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án nên không ghi nhận được ý kiến.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự vắng mặt có đơn yêu cầu nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử là đúng pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tống Thị H, cho chị Tống Thị H được ly hôn với anh Lê Vạn H1; Về con chung do anh H1 không tham gia giải quyết vụ án, chị H có nguyện vọng được nuôi con chung, để đảm bảo quyền lợi cho con chung Lê Tống Mỹ T, tại bản trình bày ý kiến cháu Lê Tống Mỹ T có nguyện vọng được sống cùng chị H nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị H, giao con chung Lê Tống Mỹ T cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, còn cháu Lê Tống Vạn H2 do đã trưởng thành nên không xem xét. Về cấp dưỡng chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Chị Tống Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn với anh Lê Vạn H1, hiện nay anh Lê Vạn H1 cư trú tại tổ D, ấp A, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
Về sự vắng mặt của đương sự: Căn cứ theo theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Chị Tống Thị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H. Bị đơn anh Lê Vạn H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh H1 là đúng quy định.
[2] Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: chị Tống Thị H và anh Lê Vạn H1 tự nguyện tìm hiểu và chung sống cùng nhau vào năm 2003, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước, do đó hôn nhân giữa chị Tống Thị H và anh Lê Vạn H1 là hợp pháp, đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình sống chung, qua lời trình bày của chị H vợ chồng thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm sống, không còn yêu thương, quan tâm lo lắng cho nhau. Nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu ly hôn với anh H1. Xét thấy anh H1 vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án thể hiện việc không mong muốn vợ chồng được đoàn tụ. Đồng thời, tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị Tống Thị H và anh Lê Vạn H1 xác định quá trình chung sống giữa chị H và anh H1 có mâu thuẫn. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân đã không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Tống Thị H ly hôn với anh Lê Vạn H1.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Lê Tống Vạn H2 – sinh ngày 24/11/2003 và cháu Lê Tống Mỹ T – sinh ngày 31/07/2008. Xét thấy chị H có yêu cầu được nuôi con chung, anh H1 vắng mặt không thể hiện được ý kiến. Để đảm bảo về quyền lợi của con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Tống Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Tống Mỹ T – sinh ngày 31/07/2008. Còn cháu Lê Tống Vạn H2 – sinh ngày 24/11/2003 do cháu đã trưởng thành, chị H không có yêu cầu nên Toà án không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nợ chung và không yêu cầu giải quyết về tài sản nên Tòa án không giải quyết.
[3] Về án phí: chị Tống Thị H phải chịu số tiền 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[4] Về ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q:
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tống Thị H.
-
- Về quan hệ hôn nhân: chị Tống Thị H được ly hôn với anh Lê Vạn H1.
(Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 67/2003 ngày 29/08/2003 của UBND xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước )
-
- Về con chung: Giao cho chị Tống Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Lê Tống Mỹ T – sinh ngày 31/07/2008, cháu Lê Tống Vạn H2 – sinh ngày 24/11/2003 do cháu H2 đã trưởng thành, chị H không có yêu cầu nên Toà án không xem xét.
-
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
-
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con.
-
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Tống Thị H chưa yêu cầu anh Lê Vạn H1 cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không xem xét.
-
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị Tống Thị H phải chịu số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005015 ngày 08/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
-
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ Tọa phiên tòa Nguyễn Mạnh Hồng |
Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn
- Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
