Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 69/2024/HS-ST Ngày: 25-06 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Tuyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hiếu.

Bà Trần Thị Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thiệm - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở nhà văn hoá (Tổ B phường N); địa chỉ: số G đường N, quận H, thành phố Hải Phòng; Toà án nhân dân quận Hải An xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2024/TLST- HS, ngày 07 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 06 năm 2024 đối với bị cáo:

Đặng Thanh P, sinh ngày 21 tháng 06 năm 1989 tại Hải Phòng; ĐKHKTT và chỗ ở: Số G Đ, tổ F, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn L (đã chết) và bà Chu Thị M; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 27/12/2023 đến ngày 02/01/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận H, thành phố Hải Phòng. Có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến:

  1. Anh Nguyễn Tùng C, vắng mặt tại phiên tòa.
  2. Anh Phạm Văn T, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 27/12/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Đặng Thanh P gọi điện thoại từ số máy của mình là 0779.739.252 đến số 0388.887.018 (theo P cung cấp là số điện thoại của Phùng Bắc S, SN: 1969, ĐKHKTT: Tổ C, phường N, quận H, TP Hải Phòng, chỗ ở: Số A N, tổ F, phường N, quận H, TP Hải Phòng) P lưu tên trong danh bạ là “Sos”, hỏi mua 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) ma túy “đá”. S đồng ý bán và yêu cầu P chuyển tiền trước rồi hẹn P ra khu vực ngõ A Đ gần nhà S để giao dịch. P đồng ý, chuyển khoản từ tài khoản số 8821061989 ngân hàng T1 của P đến tài khoản ngân hàng số [...] tại ngân hàng M1 của Phùng Bắc S số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Sau đó, P mượn xe đạp của chị Lê Thị N, SN: 1992, ĐKHKTT: Tổ 6, phường N, quận H, TP Hải Phòng (hàng xóm của P) đi đến khu vực S đã hẹn. Tại đây, S đi từ nhà ra đưa cho P một túi nilon kích thước khoảng 2x2cm được bọc băng dính bên trong chứa ma túy “đá”. Mua ma túy xong, P đạp xe đi về. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực trước cửa nhà số A Đ, tổ F, phường N, quận H, TP Hải Phòng, P bị Công an phường N kiểm tra, phát hiện thu giữ tại lòng bàn tay trái P đang cầm 01 túi nilon được bọc băng dính màu trắng xám kích thước khoảng 02x02cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, P khai là ma tuý “đá” P vừa mua đang mang về để sử dụng. Tổ công tác lập biên bản, niêm phong vật chứng và đưa P về trụ sở Công an phường N lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.

Kết quả xét nghiệm nhanh mẫu nước tiểu của Đặng Thanh P ngày 27/12/2023: Xác định Đặng Thanh P dương tính với chất ma túy Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số 1088/KL-KTHS ngày 31/12/2023 của Phòng K Công an T2 kết luận đối với tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon đã thu giữ của Đặng Thanh P: “là ma túy, có khối lượng 0,43 gam, loại Methamphetamine”.

Tại Cơ quan điều tra, Đặng Thanh P khai nhận như nội dung trên. Ngoài ra, Đặng Thanh P khai: Vào các ngày 14/12/2023 và ngày 22/12/2023, P khai còn mua ma tuý đá của S lần lượt với số tiền là 550.000 đồng, 500.000 đồng, cả hai lần P đều mua ma tuý “đá” về để sử dụng vào buổi tối một mình tại nhà. Cả hai lần, P đều chuyển khoản tiền trước cho S, sau đó hai người gặp và giao dịch tại khu vực ngõ A Đ, phường N, quận H, TP Hải Phòng (là ngõ sau nhà của S).

Tại Cáo trạng số 74/CT-VKS ngày 05 tháng 06 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An đã truy tố bị cáo Đặng Thanh P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đặng Thanh P ngày 14/12/2023 và ngày 22/12/2023 tại nhà số G Đ, Tổ F, phường N, quận H, TP Hải Phòng, Cơ quan điều tra chuyển xử phạt vi phạm hành chính theo khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP.

Đối với hành vi bán ma tuý của Phùng Bắc S, hiện S vắng mặt tại địa phương; Cơ quan CSĐT Công an quận H đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 1359 ngày 23 tháng 5 năm 2024 để điều tra, xác minh, xử lý sau.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt:

Bị cáo Đặng Thanh P từ 20 tháng đến 23 tháng tù, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/12/2023.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong lại số 1088MT/ PC09- Công an T2 bên trong chứa toàn bộ khối lượng ma túy còn lại sau giám định.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu IPHONE 6s màu ghi; tiêu huỷ sim số 0779739252 của Đặng Thanh P đã dùng vào việc phạm tội.

Đối với 01 xe đạp thể thao màu đỏ P mượn của chị Lê Thị N, chị N không biết việc P sử dụng xe để đi mua ma tuý nên ngày 12 tháng 4 năm 2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe cho chị N.

Đối với 01 ví da màu đen bên trong chứa 01 thẻ căn cước công dân của Đặng Thanh P, ngày 12 tháng 4 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã trả cho mẹ Đặng Thanh P là bà Chu Thị M, SN: 1968, ĐKHKTT: Tổ F, phường N, quận H, TP Hải Phòng là người được Đặng Thanh P uỷ quyền nhận lại đồ vật trên.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, báo cáo bắt giữ, bản kết luận giám định, nội dung bản cáo trạng, tang vật thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 27/12/2023, tại khu vực trước cửa nhà số A Đ, thuộc tổ F, phường N, quận H, TP Hải Phòng, Công an phường N kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Đặng Thanh P có hành vi tàng trữ trái phép 0,43 gam Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân.

Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đặng Thanh P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội, làm suy thoái đạo đức lối sống và là nguyên nhân làm phát sinh những tội phạm khác gây mất trật tự xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Qua đó đã thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứng đối với hành vi phạm tội của mình.

[4] Về nhân thân của bị cáo: Đặng Thanh P có 01 tiền án là Bản án số 28/2010/HSST ngày 16/3/2010, Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, TP Hải Phòng xử phạt 42 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (đã xoá án tích).

[5] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về hình phạt: Sau khi xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy, làm suy thoái đạo đức lối sống và là nguyên nhân làm phát sinh những tội phạm khác gây mất trật tự xã hội. Do vậy cần phải xử lý nghiêm, bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian, đủ để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đặng Thanh P ngày 14/12/2023 và ngày 22/12/2023 tại nhà số G Đ, Tổ F, phường N, quận H, TP Hải Phòng, Cơ quan điều tra chuyển xử phạt vi phạm hành chính theo khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP.

Đối với hành vi bán ma tuý của Phùng Bắc S, hiện S vắng mặt tại địa phương; Cơ quan CSĐT Công an quận H đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 1359 ngày 23 tháng 5 năm 2024 để điều tra, xác minh, xử lý sau.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, chưa xác minh được bị cáo có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng: Số ma tuý Công an thu giữ của bị cáo sau khi lấy đi giám định, lượng còn lại xét là vật cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu IPHONE 6s màu ghi bên trong có gắn sim số 0779739252 của Đặng Thanh P, là công cụ bị cáo sử dụng liên lạc và chuyển tiền khi cần mua ma túy, là công cụ dùng vào việc phạm tội, cần Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu IPHONE 6s màu ghi; tiêu huỷ sim số 0779739252 của Đặng Thanh P; theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 xe đạp thể thao màu đỏ P mượn của chị Lê Thị N, chị N không biết việc P sử dụng xe để đi mua ma tuý nên ngày 12 tháng 4 năm 2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe cho chị N.

Đối với 01 ví da màu đen bên trong chứa 01 thẻ căn cước công dân của Đặng Thanh P, ngày 12 tháng 4 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã trả cho mẹ Đặng Thanh P là bà Chu Thị M, SN: 1968, ĐKHKTT: Tổ F, phường N, quận H, TP Hải Phòng là người được Đặng Thanh P uỷ quyền nhận lại đồ vật trên.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án, các bị cáo trình bày nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm và rất ăn năn hối cải nên mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Đặng Thanh P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Thanh P 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 27 tháng 12 năm 2023.

Về xử lý tang vật: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong lại số 1088MT/ PC09- Công an T2 bên trong chứa toàn bộ khối lượng ma túy còn lại sau giám định.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu IPHONE 6s màu ghi; tiêu huỷ sim số 0779739252 của Đặng Thanh P.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07 tháng 06 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận hải An, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Đặng Thanh P phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Vụ án xử công khai sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - VKSND quận Hải An;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - CQCSĐT – Công an quận Hải An;
  • - CQTHAHS - Công an quận Hải An;
  • - PV06 - Công an TP Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS quận Hải An;
  • - Trại tạm giam - Công an Hải Phòng;
  • - TAND thành phố Hải Phòng
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Đặng Văn Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 69/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Thanh Phương - TTCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger