|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 69/2023/HS-ST Ngày: 24 – 10 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Đông.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Vi Anh Tú.
2/ Ông Vi Văn Duẩn.
Thư ký phiên toà: Bà Vị Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Lâm – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2023/TLST – HS ngày 06 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lộc Văn T, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1977 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản Na Xén, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 3/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lộc Văn N (đã chết) và bà Lương Thị K; có vợ là Lương Thị H và 02 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24/5/2005 bị TAND huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 12/8/2006 (đã được xóa án tích); bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/6/2023 đến nay. (Có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Quỳnh T1 – Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N – Công tác tại Chi nhánh trợ giúp pháp lý Nhà nước số 2, thị xã T, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)
· Người làm chứng: Anh Ông Quốc L, sinh năm: 1972, trú tại: K, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 15/6/2023 khi Lộc Văn T đang ở nhà thì có Ông Quốc L đến hỏi mua ma túy để sử dụng đồng thời giao số tiền 180.000đ (một trăm tám mươi nghìn đồng) cho T, sau khi nhận tiền T lấy từ trong túi quần của mình đang mặc 01 gói ma túy đưa cho L, sau khi có ma túy L đi ra khu vực đồng ruộng phía sau nhà của T sử dụng bằng hình thức chích, sử dụng ma túy xong L vào nhà của T ngồi chơi, đến khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày tổ công tác Công an huyện Q phối hợp với Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC04) công an tỉnh N kiểm tra hành chính. Vào thời điểm kiểm tra T đang cầm trên tay 01 gói ma túy, thấy lực lượng Công an vào nhà nên T bỏ gói ma túy vào miệng của mình nhưng đã bị khống chế thu giữ gói ma túy, quá trình khám xét Tỵ tự nguyện lấy trên kệ bê tông gần các bình rượu ra 01 gói được bọc bằng mảnh bao ni lon màu trắng, lấy trên trần phía cuối nhà 01 gói được bọc bằng mảnh bao ni lon màu trắng, trong các gói thu được có chứa chất rắn màu trắng (nghi là ma túy), đồng thời thu giữ số tiền 180.000đ (một trăm tám mươi nghìn đồng) bán ma túy cho L trước đó mà có, lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người quả tang, tạm giữ người và vật chứng đưa về trụ sở điều tra, xử lý theo quy định.
Quá trình điều tra T khai nhận, nguồn gốc ma túy do T mua tại huyện Q, tỉnh Nghệ An mà có, ngày 12/6/2023 T một mình bắt xe khách đi từ nhà lên huyện Q tìm mua ma túy với mục đích bán lại kiếm tiền lời, đến khoảng 15 giờ cùng ngày khi đến khu vực xã C, huyện Q thì xuống xe đi bộ, trên đường đi Tỵ gặp một người đàn ông không quen biết, không rõ tên tuổi, địa chỉ sau khi bắt chuyện biết người đàn ông có ma túy bán nên mua với số tiền 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng), sau khi mua được ma túy T bắt xe khách đi về nhà. Về nhà T chia gói ma túy mua được ra thành 04 gói nhỏ để bán dần cho các con nghiện.
Tại biên bản mở niêm phong vật chứng xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, lập ngày 16/6/2023 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An, xác định: Bên trong ba gói niêm phong có 03 (ba) gói ni lông màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy) được ký hiệu là M1, M2 và M3. Sau khi loại bỏ bao gói, cân trọng lượng chất bột rắn màu trắng trong gói thứ nhất (ký hiệu M1) có khối lượng là 0,4g (không phẩy bốn gam) cán bộ kỹ thuật hình sự trích lấy 0,1g (không phẩy một gam) để gửi giám định khối lượng và định tính chất ma túy; Chất bột rắn màu trắng trong gói thứ hai (ký hiệu M2) có khối lượng là 0,03g (không phẩy không ba gam) cán bộ kỹ thuật hình sự lấy toàn bộ để gửi giám định khối lượng và định tính chất ma túy; Chất bột rắn màu trắng trong gói thứ ba (ký hiệu M3) có khối lượng là 0,27g (không phẩy hai mươi bảy gam) cán bộ kỹ thuật hình sự trích lấy 0,1g (không phẩy một gam) để gửi giám định khối lượng và định tính chất ma túy. Số vật chứng còn lại gồm 0,47g (không phẩy bốn mươi bảy gam) chất rắn màu trắng cùng các mảnh bao ni lông màu trắng và vỏ bao niêm phong cũ được niêm phong lại theo quy định.
Kết luận giám định số: 679/KL-KTHS(Đ2-MT), ngày 21/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: “- Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M1) và 02 (hai) mẫu chất rắn màu trắng (ký hiệu) M2 và M3) thu giữ của Lộc Văn T gửi tới giám định đều là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Số chất bột màu trắng (01 gói) và chất rắn màu trắng (02 gói) thu giữ của Lộc Văn T có tổng khối lượng là 0,7g (không phẩy bảy gam).”
Bản cáo trạng số: 72/CT-VKS-QC ngày 04/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, truy tố bị cáo Lộc Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lộc Văn T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam.
Buộc bị cáo chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, ngoài ra đề nghị không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy số ma túy (Heroine) còn lại cùng vỏ, bao gói được niêm phong theo quy định. Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với số tiền 180.000₫ (một trăm tám mươi nghìn đồng) do Ngân hàng N1 phát hành, là tiền do thu lợi bất chính bán ma túy mà có.
- Bản bào chữa của người bào chữa cho bị cáo: Về tội danh hoàn toàn nhất trí theo truy tố của Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét đến các yếu tố bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp nên nhận thức về pháp luật hạn chế, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, số lượng ma túy thu giữ được không nhiều. Từ những phân tích đã nêu đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù là hợp lý. Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đối với phần xử lý vật chứng và án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, không bổ sung thêm vào bản bào chữa cho mình. Lời nói sau cùng tại phiên tòa bị cáo nhận tội và xin xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng, tuy nhiên trong quá trình điều tra đã lấy lời khai, làm rõ những nội dung được chứng kiến phù hợp với lời khai nhận của bị cáo, căn cứ vào Điều 293 Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng là đúng quy định.
[2] Những chứng cứ xác định có tội: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra Công an thu thập có tại hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại; kết luận giám định; bản tự khai, biên bản hỏi cung, lấy lời khai của bị cáo và người liên quan, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, cũng như những tài liệu, chứng cứ khách quan khác thu thập có trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định:
Khoảng 19 giờ 20 phút, ngày 15/6/2023 tại nhà của bị cáo Lộc Văn T ở bản N, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Sau khi nhận được thông tin về hoạt động có dấu hiệu tội phạm, Công an huyện Q phối hợp với Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện và bắt quả tang bị cáo Lộc Văn T có hành vi tàng trữ ma túy với mục đích bán lại cho những người nghiện kiếm tiền lời, thu giữ từ bị cáo và bị cáo tự nguyện giao nộp 03 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng, sau khi giám định được xác định là chất ma túy (Heroine), khối lượng 03 (ba) gói ma túy sau khi loại bỏ bao bì có trọng lượng là 0,7g (không phẩy bảy gam), ngoài ra bị cáo còn giao nộp số tiền 180.000đ (Một trăm tám mươi nghìn đồng) là tiền bán ma túy cho Ông Quốc L trước đó mà có. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, bởi ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và bệnh truyền nhiễm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, đã từng vi phạm pháp luật bị đưa ra xét xử nên biết rõ và nhận thức được tác hại của chất ma túy nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, lao động hoặc làm công việc hợp pháp để có thu nhập chính đáng mà cố ý phạm tội để có tiền nhằm thỏa mãn nhu cầu của cá nhân, thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo nên cần lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để bị cáo có thời gian cải tạo, giáo dục, sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đó là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng thêm hình phạt bổ sung. Tuy nhiên theo tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo cho thấy, bị cáo đang bị tạm giam, là lao động tự do, không có tài sản riêng đảm bảo cho việc thi hành án, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Căn cứ vào lời khai nhận của bị cáo Cơ quan điều tra Công an đã tiến hành điều tra, xác minh về người đàn ông bán ma túy cho bị cáo nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
[6] Đối với hành vi mua ma túy để sử dụng của Ông Quốc L chưa cấu thành tội phạm, tuy nhiên đã vi phạm trật tự an ninh xã hội tại địa phương, do đó đã bị cơ quan Công an huyện Q ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng theo quy định của pháp luật.
[7] Về vật chứng: Khối lượng ma túy (Heroine) còn lại 0,47g (không phẩy bốn mươi bảy gam) sau khi đã đưa đi giám định là chất thuộc danh mục Nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng, mua bán và lưu hành dưới mọi hình thức; vật chứng gồm các mảnh bao nilon màu trắng cùng toàn bộ vỏ bao niêm phong cũ là những vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 180.000đ (Một trăm tám mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Lộc Văn T là tiền do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bán ma túy cho Ông Quốc L mà có.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lộc Văn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 15/6/2023.
2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 180.000đ (Một trăm tám mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Lộc Văn T là tiền do phạm tội mà có. (Vật chứng được gửi tại Kho bạc nhà nước huyện Q, theo biên bản giao nhận tài sản số: 40/2023/BBBG-KBNN lập ngày 06/9/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Kho bạc nhà nước huyện Q)
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư dán kín, chứa 0,47g (không phẩy bốn mươi bảy gam) ma túy (Heroine) còn lại, cùng các mảnh bao ni lông màu trắng và toàn bộ vỏ bao niêm phong cũ, là số vật chứng còn lại sau khi mở niêm phong xác định khối lượng trích lấy mẫu giám định và niêm phong lại theo đúng quy định của pháp luật. (Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao, nhận vật chứng, lập ngày 05/10/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An)
3. Án phí: Căn cứ vào Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lộc Văn T chịu án phí Hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Đông |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
|
Vi Anh Tú – Vi Văn Duẩn |
Hà Văn Đông |
Bản án số 69/2023/HS-ST ngày 24/10/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 69/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T là người nghiện chất ma túy nên trước đó tìm mua ma túy về sử dụng đồng thời bán cho những người nghiện khác kiếm thêm tiền lời, ngày 15/6/2023 T đã bán cho L 01 gói ma túy với số tiền 180.000đ sau đó L sử dụng hết, sau đó lực lượng công an tiến hành kiểm tra T tự nguyện giao nộp 0,7g ma túy và số tiền bán ma túy, đồng thời khai nhận hành vi của mình.
