|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2024/HS-ST
Ngày 24 tháng 06 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – TP HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Thanh Phong.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Khánh.
Bà Dương Thị Kim Lan.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mê Linh – TP Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh - TP Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 24/06/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mê Linh- TP Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 69/2024/TLST-HS ngày 31/05/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST- HS ngày 03/06/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 49/2024/HSST-QĐ ngày 21/06/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn C - sinh năm 1987 - Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Quê quán: Khu C, xã P, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu C, xã P, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Chỗ ở hiện nay: Đi lang thang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Họ tên bố: Nguyễn Văn N – sinh năm 1953 (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Đ – sinh năm 1958; Anh, chị em ruột: Gia đình có 03 người, bị cáo là con thứ 3; Họ tên vợ: Hà Thị S – sinh năm 1988 (đã ly hôn); Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không; Bị can bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/4/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam S1 – Công an thành phố H.
(Có mặt tại phiên toà)
Trợ giúp pháp lý: Ông Vũ Văn D – Phụ trách chi nhánh S2
Địa chỉ: Tầng A - Khu Đ- xã P - S - Hà Nội.
(Có mặt tại phiên toà)
* Bị hại: Trần Như M, sinh năm 1982.
Địa chỉ thôn T, xã T, huyện M, Hà Nội.
(Vắng mặt tại phiên toà)
Người làm chứng:
- Lê Văn D1, sinh năm 2000.
Địa chỉ số B ngõ A H, phường N, quận C, Hà Nội.
- Đào Thế K, sinh năm 2001.
Địa chỉ số A ngõ H P, phường P, N, Hà Nội.
( Đều vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 04/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện M, Hà Nội nhận được nguồn tin về tội phạm và đối tượng Nguyễn Văn C1 do Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận C chuyển đến về việc Nguyễn Văn C đã có hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện M. Quá trình điều tra xác định:
Nguyễn Văn C là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, sống lang thang trên địa bàn thành phố Hà Nội. Ngày 13/3/2024, C đến trung tâm giới thiệu việc làm của Công ty TNHH C2, có địa chỉ: số B ngõ A H, phường N, quận C, thành phố Hà Nội để liên hệ tìm việc làm. Tại đây, C được Trung tâm giới thiệu và ký hợp đồng lao động cho C đến làm công việc lái xe ô tô chở G cho anh Trần Như M - sinh năm: 1982, trú tại: thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Sau đó, C được anh M bố trí cho làm việc và chỗ ăn, ở tại cơ sở kinh doanh của gia đình anh M ở thôn T, xã T, huyện M để tiện cho công việc làm hàng ngày của C. Do C mới đến làm việc nên đến buổi chiều cùng ngày, anh M điều khiển xe ô tô chở G đi giao đồng thời cho C cùng đi để C làm quen với công việc. Đến khoảng 18 giờ, C quay về phòng nghỉ thì quan sát thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh cam đen, biển kiểm soát: 29V7 - 0053 của gia đình anh M đang để ngoài sân, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khỏa điện,
C nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Sau đó, C quan sát thấy không có người để ý, C lên xe mở ổ khóa điện, nổ máy điều khiển xe đi lên khu vực thuộc địa phận thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc gặp một người đàn ông không rõ tên, tuổi địa chỉ đang điều khiển một chiếc xe ô tô tải đi thu mua phế liệu trên đường, C bán chiếc xe trộm cắp được cho người đàn ông với giá 1.500.000 đồng, C cầm tiền đi xe khách quay lại thành phố Hà Nội đi lang thang tiêu xài cá nhân hết. Khoảng 16 giờ 00 ngày 03/4/2024, C tiếp tục quay lại Trung tâm giới thiệu việc làm của Công ty TNHH C2 để xin việc thì C bị phát hiện bắt giữ giao Chí cho Cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Văn C còn khai nhận vào ngày 03/3/2024, C có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe công nông đầu ngang trên địa bàn huyện C, thành phố Hà Nội. Hiện vụ việc đã được Cơ quan điều tra huyện C thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện M bị can Nguyễn Văn C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 28/KL-HĐĐGTS, ngày 04/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M kết luận: “01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh cam đen, biển kiểm soát 29V7-0053, số máy: 6603898, SK 603855 (xe máy đã qua sử dụng, đăng ký lần đầu ngày 06/9/2006) có giá trị là: 5.600.000 đồng”;
Đối với chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave biển kiểm soát 29V7-0053, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện M đã thông báo truy tìm vật chứng, tuy nhiên đến nay không thu hồi được.
* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, anh Trần Như M yêu cầu bị can Nguyễn Văn C phải có trách nhiệm bồi thường số tiền 8.200.000 đồng, trong đó: Tiền bồi thường chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh cam đen, biển kiểm soát: 29V7 - 0053 là 7.000.000 đồng và tiền bồi thường thiệt hại anh M phải chi trả cho Công ty TNHH C2 để thuê lao động là 1.200.000 đồng. Đến nay Chí chưa thực hiện việc bồi thường.
Đối với người đàn ông mua chiếc xe mụ tụ hiệu Honda Wave biển kiểm soỏt 29V7-0053 của Nguyễn Văn C, quỏ trỡnh điều tra khụng xỏc định được nhõn thôn, lai lịch nờn khụng cú căn cứ để xử lý.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Tại bản cáo trạng số: 70/CT-VKS ngày 30/05/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mê Linh đã truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo chưa bồi thường khắc phục hậu quả.
Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt vì tại phiên tòa bị cáo thành khẩn, ăn năn, hối cải. Gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn thuộc trường hợp hộ cận nghèo, bị cáo nhận thức pháp luật còn hạn chế.
* Về tội danh và hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo:
Đề nghị xử phạt:
- Bị cáo Nguyễn Văn C mức án từ: 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù giam.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47, điều 48 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường dân sự cho bị hại là anh Trần Như M số tiền 8.200.000đ (tám triệu hai trăm ngàn đồng).
- Về xử lý vật chứng: Không thu hồi được nên không xét.
* Về án phí: Người tham gia tố tụng phải chịu án phí theo qui định pháp luật.
* Về quyền kháng cáo: Người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo qui định pháp luật.
* Đại diện Trung tâm trợ giúp pháp lý là ông D1 có ý kiến:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng là đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo là hộ cận nghèo, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn. Bị cáo xa quê hương mưu sinh qua ngày. Bị cáo thiếu tình thương gia đình nên dễ sa ngã vào con đường tội lỗi mà không nhận thức được hậu quả xảy ra. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng cho bị
cáo. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo chưa tiền án, chưa tiền sự. Bị cáo tự nhận trách nhiệm bồi thường. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo mức án nhẹ hơn Viện kiểm sát đề nghị, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] - Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người tham gia tố tụng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mê Linh đã truy tố.
HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 18 giờ 00' ngày 13/3/2024, tại cơ sở kinh doanh của gia đình anh Trần Như M ở thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn C đã có hành vi trộm cắp chiếc chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh cam đen, biển kiểm soát: 29V7 – 0053 có trị giá là 5.600.000 đồng của gia đình anh M.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mê Linh đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi của bị cáo gây tâm lý lo lắng cho quần chúng nhân dân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự trị an xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản. Do đó cần thiết phải áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo bị cáo và để giúp bị cáo sống lành mạnh, lao động có ích cho xã hội.
[3] Xét nhân thân bị cáo: Chưa tiền án, chưa tiền sự.
[4] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo chưa bồi thường khắc phục hậu quả.
- Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Không.
- Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Bị cáo thành khẩn khai báo.
- Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
- Gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn, thuộc trường hợp hộ cận nghèo.
- Bị cáo hứa sửa chữa, không vi phạm pháp luật nữa.
Nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: theo điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với bị cáo cần phải áp dụng hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội để đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Xét theo qui định pháp luật, áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo mới đủ đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[5] Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù giam đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với pháp luật.
[6] Về dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47, điều 48 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường dân sự cho bị hại là 5.600.000₫ (năm triệu sáu trăm ngàn) đồng giá trị xe Honda Wave theo kết luận định giá. Dành quyền khởi kiện cho anh M đối với Công ty C2 bằng vụ kiện dân sự khác về số tiền 1.200.000đ (một triệu hai trăm ngàn) đồng anh M trả phí công ty để nhận người lao động.
- Về xử lý vật chứng: Không thu hồi được nên không xét.
[7] Các vấn đề khác: Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Văn C còn khai nhận vào ngày 03/3/2024, C có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe công nông đầu ngang trên địa bàn huyện C, thành phố Hà Nội. Hiện vụ việc đã được Cơ quan điều tra huyện C thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử không xét.
Đối với người đàn ông mua chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave biển kiểm soát 29V7-0053 của Nguyễn Văn C, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý. Hội đồng xét xử không xét.
[8] Về án phí: Người tham gia tố tụng phải chịu án phí theo qui định pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[10] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai
báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo, người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng: Khoản 1, điều 173; điểm s khoản 1; khoản 2 điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Nguyễn Văn C 09 (chín) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 04/04/2024.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47, điều 48 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Điều 357; điều 468 BLDS 2015.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường dân sự cho bị hại là anh Trần Như M số tiền 5.600.000đ (năm triệu sáu trăm ngàn) đồng giá trị xe Honda Wave theo kết luận định giá.
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Không thu hồi được nên không xét.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường dân sự cho bị hại là anh Trần Như M số tiền 5.600.000đ (năm triệu sáu trăm ngàn) đồng giá trị xe Honda Wave theo kết luận định giá.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136; 331; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội.
Miễn án phí cho bị cáo vì gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo.
Người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Thanh Phong |
Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP HÀ NỘI về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 69/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn Chí có hành vi trộm cắp 01 xe máy có trị giá 6.500.000
