1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2024/HS-ST
Ngày 24/5/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI,
TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Hoàng Minh Tân;
+ Ông Đỗ Thanh Đình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Quốc Trạng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hòa - Kiểm sát viên.
Từ ngày 22 tháng 5 năm 2024 đến ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2024/TLST-HS, ngày 24 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-HS, ngày 22 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 82/2024/HSST-QĐ, ngày 22 tháng 4 năm 2024, đối với:
- Bị cáo: Lê Hoàng K (tên gọi khác: K, Cụm E), sinh ngày 25 tháng 4 năm 1987, tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi cư trú: Tổ D, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T, sinh năm 1959 và bà Tạ Thị Kim T1, sinh năm 1966; bị cáo có vợ Phan Thị Kim T2 (Đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2015; tiền sự: Không.
Tiền án:
+ Ngày 23/02/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, tuyên phạt 04 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số: 05/2011/HSST.
2
+ Ngày 20/01/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, tuyên phạt 03 năm tù, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tại Bản án số: 09/2016/HSST; tổng hợp hình phạt với bản án số 115/2015/HSST, ngày 04/12/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi buộc bị cáo phải chấp hành chung là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
Nhân thân:
+ Năm 2002, bị áp dụng biện pháp dưa vào trường G.
+ Năm 2005, bị Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, tuyên phạt 24 tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 20/2005/HSST, ngày 06/6/2005.
+ Ngày 31/8/2005, bị Tòa án nhân dân thị xã Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, tuyên phạt 12 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 26/2005/HSST. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 20/2005/HSST, ngày 06/6/2005 của Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, buộc bị cáo chấp hành 03 năm tù. Bị cáo chấp hành án tại Trại giam K1, đến ngày 28/9/2007 chấp hành xong án phạt tù.
+ Ngày 12/3/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, tuyên phạt 30 tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 11/2008/HSST. Bị cáo chấp hành án tại Trại giam K1, đến ngày 15/01/2010 chấp hành xong án phạt tù.
+ Năm 2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, tuyên phạt 04 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 115/2015/HSST, chấp hành xong ngày 26/3/2022.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, từ ngày 14/7/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị T3, sinh năm 1977; trú tại: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. (Vắng mặt)
- Anh Hà Minh T4, sinh năm 2004; trú tại: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. (Vắng mặt)
- Anh Lê Văn T5, sinh năm 1994; trú tại: Tổ C, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. (Vắng mặt)
- Anh Phùng Long T6, sinh năm 2001; trú tại: Xóm F, thôn T, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. (Vắng mặt)
3
- Ông Lê Thái H, sinh năm 1983; trú tại: Tổ B, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 14/7/2023, Công an phường N phối hợp với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Q kiểm tra hành chính tại ngôi nhà số G, đường L, tổ C, phường N, thành phố Q do Lê Hoàng K thuê của ông Lê Thái H, sinh năm 1983; trú tại: Tổ B, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi để ở. Tại đây có 04 đối tượng gồm: Lê Hoàng K, Lê Văn T5, sinh năm 1994; nơi cư trú: Tổ C, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; Phùng Long T6, sinh năm 2001; nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi và Hà Minh T4, sinh năm 2004; nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. Quá trình kiểm tra, Lê Hoàng K tự nguyện giao nộp 01 (một) đoạn ống nhựa hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng, 01 (một) đoạn ống nhựa màu đen một đầu gắn ống nhựa màu trắng có bám dính các tinh thể màu trắng (K khai là ma túy “đá”). Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Q tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Hoàng K.
Quá trình điều tra xác định: Thông qua bạn bè ngoài xã hội giới thiệu, ngày 12/7/2023, Lê Hoàng K đến một hẻm trên đường Q, thành phố Q (Kỳ không nhớ rõ địa chỉ) gặp và mua 1.000.000 đồng ma túy “đá” của đối tượng “Me” (không rõ nhân thân, lai lịch). Sau đó, K mang về cất giấu trong phòng ngủ tại nhà thuê tại số G, đường L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, rồi phân chia nhỏ thành 04 (bốn) tép, nhằm mục đích vừa sử dụng, vừa bán lại cho nhiều đối tượng khác kiếm lời.
Tối ngày 12/7/2023, K đang ở nhà trọ thì Hà Minh T4 điện thoại qua qua M hỏi mua 01 tép ma tuý thì K đồng ý. Do không có tiền để trả, nên T4 nói với K về việc T4 đổi cho K 01 cây kiếm nhật để đổi lấy 01 tép ma tuý thì K đồng ý, sau đó T4 đến nhà trọ K đưa cho T4 01 tép ma tuý “đá”.
Ngày 13/7/2023, khi K đang ở tại nhà trọ thì có Zalo của Hương H1 nhắn tin vào Zalo của Lê Hoàng K (tên tài khoản “Kkkk”) hỏi mua 01 tép ma tuý thì K đồng ý, sau đó H1 đến nhà trọ K đưa cho H1 một tép ma túy “đá” và nhận số tiền 350.000 đồng.
Đến khoảng 16 giờ 00 phút ngày 13/7/2023, Nguyễn Văn T7 nhắn tin vào Zalo của Lê Hoàng K (tên tài khoản “Kkkk”) hỏi mua 01 tép ma tuý thì K đồng
4
ý, sau đó T7 đến nhà trọ K đưa cho T7 một tép ma túy “đá” và nhận số tiền 400.000 đồng.
Tép ma túy “đá” còn lại, K cất giấu trong phòng ngủ để tiếp tục bán lại cho đối tượng khác, nhưng chưa kịp bán thì bị Công an thành phố Q bắt quả tang, tạm giữ.
* Tại Kết luận giám định số: 715/KL-KTHS, ngày 21/7/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh Q, kết luận mẫu gửi giám định tạm giữ của bị cáo Lê Hoàng K: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bám dính đầu ống nhựa và chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong đoạn ống nhựa màu trắng gửi giám định là chất ma túy, loại: Methamphetamine; khối lượng mẫu là: 0,19 gam.
* Tại Kết luận giám định số: 896/KL-KTHS, ngày 29/10/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh Q, kết luận mẫu gửi giám định tạm giữ cụ thể như sau:
Dữ liệu bên trong điện thoại di động cảm ứng, không rõ màu, mặt sau có dòng chữ VIVO, bên trong có gắn 01 thẻ sim viettell, trong thời gian từ ngày 12/7/2023 đến ngày 14/7/2023, cụ thể: Trích xuất được 319 tên và số điện thoại có trong danh bạ; 60 cuộc gọi đến, 53 cuộc gọi đi, 77 cuộc gọi nhỡ, 33 tin nhắn đến, 10 tin nhắn đi. Trích xuất được dữ liệu cuộc gọi, tin nhắn của ứng dụng Z thực hiện với 39 tài khoản, trong đó có thể hiện nội dung liên lạc và nhắn tin giữa Lê Hoàng K với tên Nguyễn Văn T7 “Để em cái h em xg", "4 a”, “Để em 1 cái nha tý em xg lấy"....; dữ liệu cuộc gọi, tin nhắn của ứng dụng M1 thực hiện với 13 tài khoản, có liên lạc tài khoản tên Hà Minh T4. Số điện thoại của thẻ sim là 0365107442.
Dữ liệu bên trong điện thoại di động loại cảm ứng, màu đen, mặt sau có dòng chữ Iphone, bên trong có gắn 01 thẻ sim mobifone, trong thời gian từ ngày 12/7/2023 đến ngày 14/7/2023 cụ thể: Trích xuất được 06 tên và số điện thoại có trong danh bạ; 12 cuộc gọi đến, 20 cuộc gọi đi, 46 cuộc gọi nhỡ, 34 tin nhắn đến, 11 tin nhắn đi. Trích xuất được dữ liệu cuộc gọi, tin nhắn của ứng dụng Z thực hiện với 01 tài khoản; dữ liệu cuộc gọi, tin nhắn của ứng dụng M1 thực hiện với 03 tài khoản. Không xác định được số điện thoại của thẻ (thẻ sim đã bị khoá).
Dữ liệu bên trong điện thoại di động loại cảm ứng, mặt trước có màu đen, mặt sau có dòng chữ VIVO và không xác định được màu, bên trong có gắn 01 thẻ sim, trong thời gian từ ngày 12/7/2023 đến ngày 14/7/2023, cụ thể: Trích xuất được 09 tên và số điện thoại có trong danh bạ; 20 cuộc gọi đến, 18 cuộc gọi đi, 02 cuộc gọi nhỡ. Không có dữ liệu tin nhắn đến, tin nhắn đi. Trích xuất được dữ liệu cuộc gọi, tin nhắn của ứng dụng Z thực hiện với 03 tài khoản; dữ
5
liệu cuộc gọi, tin nhắn của ứng dụng M1 thực hiện với 03 tài khoản. Không xác định được số điện thoại của thẻ (thẻ sim đã bị khoá).
* Tại Bản cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 19/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Lê Hoàng K, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng K, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Hoàng K từ 08(T8) năm đến 08(T8) năm 06(S) tháng tù.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 715/KTHS(GĐ-2023); tiêu hủy các dụng cụ dùng để phân chia ma túy 01 (một) cuộn băng keo màu xanh; 01 (một) cân tiểu ly; 01 (một) kẹp bằng kim loại; 01 (một) đầu khò bằng kim loại; 10 (mười) ống hút nhựa, màu trắng; 01 (một) kéo bằng kim loại; 02 (hai) ống hút màu đen, bằng nhựa; 01 (một) bật lửa; 01 (một) bình ga mini có dòng chữ “SUN”; 02 (hai) bình ga mini bằng kim loại; 01 (một) bao ni lông không màu, bên trong chứa nhiều ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) đầu khò bằng nhựa màu xám – cam; 01 (một) cuộn băng keo màu đen; 07 (bảy) đoạn ống hút nhựa, một đầu được hàn kín; 01 (một) khò ga (giống hình dạng khẩu súng), một đầu có màu vàng, một đầu màu trắng, kích thước (12x12x04)cm.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, không rõ màu, mặt sau có dòng chữ "VIVO", bên trong thân máy có gắn 01 thẻ sim được đựng trong 01 (một) bì thư dán kín bên ngoài đóng dấu niêm phong của Phòng K2 Công an tỉnh Q, kí hiệu 896/KL-KTHS của Lê Hoàng K sử dụng làm phương tiện phạm tội.
- Đối với số tiền 2.400.000 đồng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 750.000 đồng của Lê Hoàng K thu lợi từ việc bán ma túy, còn lại hoàn trả cho Lê Hoàng K.
- Hoàn trả cho Hà Minh T4: 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, màu đen, mặt sau có dòng chữ "iphone", được dựng trong 01 (một) bì thư dán kín
6
bên ngoài đóng dấu niêm phong của Phòng K2 Công an tỉnh Q, kí hiệu: 896/KL-KTHS.
- Hoàn trả cho Lê Văn T5: 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, mặt trước có màu đen, mặt sau có dòng chữ "VIVO", được đựng trong 01 (một) bì thư dán kín bên ngoài đóng dấu niêm phong của Phòng K2 Công an tỉnh Q, kí hiệu: 896/KL-KTHS.
- Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q ra quyết định xử lý vật chứng trả lại: Một xe mô tô biển kiểm soát 76E1-34899 của bà Lê Thị T3, sinh năm 1977, cư trú: xã N, T mua của ông Trần Hữu Đ, sinh năm 1987, cư trú: xã N, huyện T.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Hoàng K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đúng theo nội dung Cáo trạng đã truy tố, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội; bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị T3, anh Hà Minh T4, anh Lê Văn T5, anh Phùng Long T6, ông Lê Thái H đều vắng mặt. Xét thấy, trong quá trình điều tra những người nêu trên đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của những người nêu trên không ảnh hưởng và không gây trở ngại đến quá trình xét xử hành vi của bị cáo. Do đó, căn cứ vào các Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên.
7
[3] Về hành vi phạm tội và tội danh: Xét thấy lời khai tại phiên tòa của bị cáo, phù hợp với lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại cơ quan điều tra, vật chứng của vụ án, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
[3.1] Ngày 12/7/2023, sau khi Lê Hoàng K mua 1.000.000 đồng ma túy “đá” của đối tượng “Me” (không rõ nhân thân, lai lịch) tại một hẻm trên đường Q, thành phố Q (Kỳ không nhớ rõ địa chỉ) thì K mang về cất giấu trong phòng ngủ tại nhà thuê tại số G, đường L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi rồi phân chia nhỏ thành 04 (bốn) tép, nhằm mục đích vừa sử dụng vừa bán lại cho các đối tượng khác để kiếm lời. Cụ thể: Tối ngày 12/7/2023, tại nhà thuê K bán cho Hà Minh T4 01 tép ma tuý “đá” nhưng do không có tiền để trả, nên T4 đưa cho K 01 cây kiếm nhật để đổi lấy 01 tép ma tuý “đá” thì K đồng ý. Ngày 13/7/2023, tại nhà trọ thì có Zalo của Hương H1 nhắn tin vào Zalo của K hỏi mua 01 tép ma tuý thì K đồng ý, sau đó H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) đến nhà trọ K đưa cho H1 một tép ma túy “đá” và nhận số tiền 350.000 đồng. Chiều ngày 13/7/2023, Nguyễn Văn T7 (không rõ nhân thân, lai lịch) nhắn tin vào Zalo của Lê Hoàng K hỏi mua 01 tép ma tuý thì K đồng ý, sau đó T7 đến nhà trọ K đưa cho T7 một tép ma túy “đá” và nhận số tiền 400.000 đồng. Tép ma túy “đá” còn lại, K cất giấu trong phòng ngủ để tiếp tục bán lại cho đối tượng khác, nhưng chưa kịp bán thì bị Công an thành phố Q bắt quả tang, tạm giữ.
Như vậy, Lê Hoàng K phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3.2] Tại Bản án số 115/2015/HSST, ngày 04/12/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi đã áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 đối với Lê Hoàng K và tại Bản án số 09/2016/HSST, ngày 20/01/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi đã áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 đối với Lê Hoàng K. Đến ngày 26/3/2022, K chấp hành xong hình phạt tù, tính đến thời điểm phạm tội lần này (ngày 14/7/2023) Lê Hoàng K chưa được xóa án tích nhưng lại phạm tội do cố ý, nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”.
8
Như vậy: Hành vi của bị cáo Lê Hoàng K đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tội phạm và hình phạt được quy định như sau:
“Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
...
q) Tái phạm nguy hiểm.
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ...hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”
Bị cáo Lê Hoàng K là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Ý thức được điều đó nhưng vì mục đích tư lợi và để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Bản Kết luận giám định số: 715/KL-KTHS, ngày 21/7/2023 và Bản Kết luận giám định số: 896/KL-KTHS, ngày 29/10/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh Q.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố tại Bản cáo trạng số 19/CT-VKS, ngày 19/01/2024.
Như vậy, từ những phân tích, đánh giá trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Lê Hoàng K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 19/CT-VKS-TPQN, ngày 19/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo về hành vi và khung hình phạt nêu trên là có
9
căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan cho bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Về nhân thân bị cáo: Bị cáo Lê Hoàng K có nhân thân xấu, đã 06 lần bị Tòa án xét xử và phải đi chấp hành án về nhiều tội khác nhau nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để thay đổi bản thân mà vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật.
[4.2] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4.3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý và sử dụng chất ma túy của Nhà nước, mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bên cạnh đó, bị cáo có nhân thân xấu. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị để đảm bảo thi hành hình phạt bổ sung. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Đối với 0,19 gam mẫu ma túy loại ma túy Methamphetamine (khối lượng còn lại sau khi giám định là 0,11gam) được niêm phong trong phong bì số 715/KTHS(GĐ-2023). Xét đây là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
10
Đối với các dụng cụ dùng để phân chia ma túy gồm: 01 (một) cuộn băng keo màu xanh; 01 (một) cân tiểu ly; 01 (một) kẹp bằng kim loại; 01 (một) đầu khò bằng kim loại; 10 (mười) ống hút nhựa, màu trắng; 01 (một) kéo bằng kim loại; 02 (hai) ống hút màu đen, bằng nhựa; 01 (một) bật lửa; 01 (một) bình ga mini có dòng chữ “SUN”; 02 (hai) bình ga mini bằng kim loại; 01 (một) bao ni lông không màu, bên trong chứa nhiều ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) đầu khò bằng nhựa màu xám - cam; 01 (một) cuộn băng keo màu đen; 07 (bảy) đoạn ống hút nhựa, một đầu được hàn kín; 01 (một) khò ga (giống hình dạng khẩu súng), một đầu có màu vàng, một đầu màu trắng, kích thước (12x12x04)cm. Xét đây là công cụ dùng vào việc phạm tội, vật chứng không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, không rõ màu, mặt sau có dòng chữ "VIVO", bên trong thân máy có gắn 01 thẻ sim được đựng trong 01 (một) bì thư dán kín bên ngoài đóng dấu niêm phong của Phòng K2 Công an tỉnh Q, kí hiệu 896/KL-KTHS của Lê Hoàng K. Xét đây là công cụ, phương tiện Lê Hoàng K dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, màu đen, mặt sau có dòng chữ "iphone", được đựng trong 01 (một) bì thư dán kín bên ngoài đóng dấu niêm phong của Phòng K2 Công an tỉnh Q, kí hiệu: 896/KL-KTHS của cho Hà Minh T4. Xét đây là tài sản riêng của Hà Minh T4 không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo hoàn trả lại cho Hà Minh T4 theo quy định tại khoản 3 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, mặt trước có màu đen, mặt sau có dòng chữ "VIVO", được đựng trong 01 (một) bì thư dán kín bên ngoài đóng dấu niêm phong của Phòng K2 Công an tỉnh Q, kí hiệu: 896/KL-KTHS. Xét đây là tài sản riêng của Lê Văn T5 không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo hoàn trả lại cho Lê Văn T5 theo quy định tại khoản 3 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 76E1-34899 của bà Lê Thị T3, sinh năm 1977, cư trú: xã N, T mua của ông Trần Hữu Đ, sinh năm 1987, cư trú: xã N, huyện T (nhưng chưa làm thủ tục chuyển quyền sở hữu). Quá trình điều tra xác định chiếc xe Honda Vision tài sản của bà Lê Thị T3, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Lê Hoàng K. Do vậy, Cơ
11
quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 chiếc xe trên cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng là phù hợp, đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với số tiền 2.400.000 đồng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 750.000 đồng của Lê Hoàng K thu lợi từ việc bán ma túy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; còn lại hoàn trả cho Lê Hoàng K. Tuy nhiên vẫn tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
[8] Các vấn đề liên quan đến vụ án:
Đối với Hà Minh T4: Ngày 14/7/2023, T4 không biết việc Lê Hoàng K cất giấu ma túy trong nhà trọ để bán. Do đó, Hà Minh T4 không đồng phạm trong vụ án. Tuy nhiên, ngày 13/7/2023, T4 mua 01 (một) tép ma túy “đá” của K rồi mang về sử dụng một mình tại nhà của T4. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của đối tượng T4 vi phạm vào khoản 1, Điều 23, Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Công an thành phố Q đã ra Quyết định Xử phạt vi phạm hành chính đối với Hà Minh T4, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng là phù hợp.
Đối với Lê Văn T5: Tối 13/7/2023, Lê Văn T5 đi nhậu chung với bị cáo K rồi cùng về nhà trọ của K ngủ, đến ngày 14/7/2024 thì Công an vào kiểm tra. T5 không biết việc K cất giấu ma túy trong nhà trọ để bán. Do đó, Lê Văn T5 không đồng phạm trong vụ án. Tuy nhiên, tại thời điểm bắt quả tang, xét nghiệm Lê Văn T5 dương tính với ma tuý, quá trình điều tra T5 khai vào tối 12/7/2023, T5 sử dụng ma túy “đá” một mình tại nhà nghỉ (không nhớ tên, địa chỉ) thuộc tổ dân phố V, thị trấn L, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. Tuy nhiên, hiện nay đối tượng T5 không có mặt tại địa phương, không rõ đang làm gì, ở đâu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi đã thông báo cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Q và Công an phường N biết, xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
Đối với Phùng Long T6: Sáng 14/7/2023, T6 đến nhà của bị cáo K chơi, không biết việc K cất giấu ma túy trong nhà trọ để bán. Do đó, T6 không đồng phạm trong vụ án. Tuy nhiên, tại thời điểm bắt quả tang, xét nghiệm T6 dương tính với ma tuý, quá trình điều tra T6 khai ngày 11/7/2023 T6 có sử dụng ma túy “đá” một mình tại nhà nghỉ (không nhớ tên, địa chỉ) thuộc thôn P, xã T, huyện S,
12
tỉnh Quảng Ngãi. Qua xác minh, hiện nay T6 không có mặt tại địa phương, không rõ đang làm gì, ở đâu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi đã thông báo cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Q và Công an xã T biết, xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
Đối với người sử dụng tài khoản Zalo tên “Nguyễn Văn T7”, đối tượng tên H1 người sử dụng tài khoản Zalo tên “H” và đối tượng tên “Me” là các đối tượng mua, bán ma tuý với bị cáo nhưng K không rõ lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi chưa xác minh được nhân thân, lai lịch của các đối tượng trên. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục xác minh, điều tra, làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
Đối với người sử dụng tài khoản Zalo, M“Hồ Quang T9”, “Út Dj O”, “Huy Tồ”; “Xệ, “Thế Thuận”; “Lương Thái B”, “Bố già”, “Hoàng Phi H2”, “Phát Là T10”, “Hiệp NguyễnHồ Quang T9”, “Hòa Mai ... Hồ Quang T11 nhắn tin hỏi mua ma tuý của K, nhưng Lê Hoàng K không rõ về lai lịch, địa chỉ của các đối tượng này nên không có cơ sở điều tra, xử lý.
Đối với ông Lê Thái H là chủ sở hữu của căn nhà số G, đường L, tổ C, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Việc Lê Hoàng K mua ma tuý về cất giấu ma túy tại căn nhà trên thì ông H không biết. Do vậy, ông Lê Thái H không đồng phạm trong vụ án là phù hợp.
[9] Đề nghị của Kiểm sát viên: Về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[10] Về án phí: Bị cáo Lê Hoàng K là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội .
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án theo quy định Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
* Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng K, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
13
2. Về điều luật và hình phạt:
+ Áp dụng điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
+ Xử phạt bị cáo Lê Hoàng K 08 (T8) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 14/7/2023).
+ Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Tịch thu và tiêu hủy:
+ 0,11 gam ma túy, loại ma túy Methamphetamine (khối lượng còn lại sau khi giám định) cùng vô bao gói gửi giám định được niêm phong trong cùng phong bì số 715/KTHS(GĐ-2023), bên ngoài có chữ ký của ông: Đào Thanh C, Huỳnh Minh N.
+ 01 (một) cuộn băng keo màu xanh; 01 (một) cân tiểu ly; 01 (một) kẹp bằng kim loại; 01 (một) đầu khò bằng kim loại; 10 (mười) ống hút nhựa, màu trắng; 01 (một) kéo bằng kim loại; 02 (hai) ống hút màu đen, bằng nhựa; 01 (một) bật lửa; 01 (một) bình ga mini có dòng chữ “SUN”; 02 (hai) binh ga mini bằng kim loại; 01 (một) bao ni lông không màu, bên trong chứa nhiều ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) đầu khò bằng nhựa màu xám – cam; 01 (một) cuộn băng keo màu đen; 07 (bảy) đoạn ống hút nhựa, một đầu được hàn kín; 01 (một) khò ga (giống hình dạng khẩu súng), một đầu có màu vàng, một đầu màu trắng, kích thước (12x12x04) cm.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
+ 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, không rõ màu, mặt sau có dòng chữ "ViVo", bên trong thân máy có gắn 01 thẻ sim được đựng trong 01 (một) bì thư dán kín bên ngoài đóng dấu niêm phong của Phòng K2 Công an tỉnh Q, có kí hiệu: 896/KL-KTHS và có chữ ký, họ tên của giám định viên. (Không kiểm tra tình trạng hoạt động và chi tiết bên trong điện thoại)
+ Đối với số tiền 2.400.000 đồng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 750.000 đồng của Lê Hoàng K thu lợi từ việc bán ma túy, còn lại hoàn trả cho Lê Hoàng K. Tuy nhiên vẫn tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án. (Số tiền này Công an thành phố Q đã nộp vào tài khoản số 3949.0.1075855.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi ngày 29/01/2024).
14
- Hoàn trả cho Hà Minh T4 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, màu đen, mặt sau có dòng chữ "iphone", bên trong thân máy có gắn 01 (một) thẻ sim; được dựng trong 01 (một) bì thư dán kín bên ngoài đóng dấu niêm phong của Phòng K2 Công an tỉnh Q, có kí hiệu: 896/KL-KTHS và có chữ ký, họ tên của giám định viên. (Không kiểm tra tình trạng hoạt động và chi tiết bên trong điện thoại)
- Hoàn trả cho Lê Văn T5 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, mặt trước có màu đen, mặt sau có dòng chữ "ViVo" bên trong thân máy có gắn 01 (một) thẻ sim; được đựng trong 01 (một) bì thư dán kín bên ngoài đóng dấu niêm phong của Phòng K2 Công an tỉnh Q, có kí hiệu: 896/KL-KTHS và có chữ ký, họ tên của giám định viên. (Không kiểm tra tình trạng hoạt động và chi tiết bên trong điện thoại)
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 20 phút, ngày 19/01/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Q với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi.
- Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho bà Lê Thị T3: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 76E1-34899 của bà Lê Thị T3, sinh năm 1977; cư trú: Thôn A, xã N, huyện T chủ sở hữu hợp pháp. (Theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu, ngày 17/11/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và các Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Lê Hoàng K phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
15
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Anh Tuấn |
Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 69/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ma túy
