Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CAI LẬY

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 69/2024/HS-ST

Ngày: 23-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Cẩm Loan

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lê Văn Tám.
  2. Ông Đoàn Văn Phồi.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Tín – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa: Ông Đặng Duy Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa ra vụ án xét xử số 64/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lê Võ N, sinh ngày 07/8/2003, tại tỉnh Tiền Giang.

Tên thường gọi: Nhân L.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: làm thuê. Trình độ học vấn: 6/12.Giới tính: Nam

Con ông Lê Văn H, sinh năm 1973 và bà Võ Thị Tuyết V, sinh năm 1972; Vợ: Trần Hoài T, sinh năm 1999; con: Lê Hoàng T1, sinh năm 2023.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Ngày 22/11/2019 bị Công an thị xã C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 149/QĐ-XPHC với số tiền 375.000 đồng về hành vi dùng gạch ném vào người khác. Đã chấp hành xong.
  • + Ngày 08/02/2024, bị Công an thị xã C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 104/QĐ-XPHC với số tiền 10.500.000 đồng về hành vi "mang theo trong người hoặc tàng trữ cất giấu các loại vũ khí thô sơ, công cụ hổ trợ hoặc các loại công cụ phương tiện khác có khả năng sát thương; đồ vật, phương tiện giao thông nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng; cố ý gây thương tích cho người khác”; “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”. Bị cáo chưa chấp hành.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất nhập cảnh từ ngày 15/12/2023.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  1. Họ và tên: Phan Hữu N1, sinh ngày 28/7/2002, tại tỉnh Trà Vinh.

Tên thường gọi: không có.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã P, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: làm thuê. Trình độ học vấn: 9/12.Giới tính: Nam

Con ông Phan Văn T2, sinh năm 1968 và bà Hà Thị M, sinh năm 1980;

Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 08/02/2024, bị Công an thị xã C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 105/QĐ-XPHC với số tiền 10.500.000 đồng về hành vi "mang theo trong người hoặc tàng trữ cất giấu các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc các loại công cụ phương tiện khác có khả năng sát thương; đồ vật, phương tiện giao thông nhàm mục đích gây rối trật tự công cộng; cố ý gây thương tích cho người khác”; “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”. Bị cáo chưa chấp hành.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất nhập cảnh từ ngày 15/12/2023.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  1. Họ và tên: Trần Minh L1, sinh ngày 13/12/2000, tại tỉnh Tiền Giang.

Tên thường gọi: không có.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: làm thuê. Trình độ học vấn: 12/12.Giới tính: Nam

Con ông Trần Văn G, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị Thu V1, sinh năm 1982;

Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất nhập cảnh từ ngày 15/12/2023

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Nguyễn Văn T3, sinh năm 1995 (vắng mặt);

Địa chỉ: Khu phố A, Phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

- Người làm chứng:

  1. Lý Chánh T4, sinh năm 1984 (vắng mặt);

Địa chỉ: Số G Quốc lộ A, Khu phố B, Phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

  1. Nguyễn Văn H1, sinh năm 1991 (vắng mặt);

Địa chỉ: Số B đường T, Khu phố A, Phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

  1. Mai Thanh T5, sinh năm 1997 (vắng mặt);

Địa chỉ: Số D, Khu phố B, Phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

  1. Dương Hoàng H2, sinh năm 1993 (vắng mặt);

Địa chỉ: Số B, Khu phố B, Phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lê Võ N và anh Nguyễn Văn T3 có quan hệ bạn bè nhưng đã có mâu thuẫn và thách thức nhau khi nhắn tin trên mạng xã hội (Facebook).

Chiều ngày 10/11/2023, Lê Võ N cùng với Phan Hữu N1; Trần Minh L1 và A (không rõ nhân thân) tổ chức uống rượu tại nhà của Lê Võ N. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Lê Võ N rủ L1, Hữu N1 và A đi mua thêm thức ăn. L1 điều khiển xe mô tô biển số 59K1 - 029.24 chở A, Lê Võ N điều khiển xe biển số 71F7-5925 chở Hữu N1 đi vào chợ C. Khi đi thì Lê Võ N, L1, Hữu N1 và A đều có mang theo dao do làm nghề mua sầu riêng.

Khi chạy xe vào chợ C do các quán đóng cửa nên nhóm Lê Võ N quay về. Lúc đi ngang ngã 4 C thì Lê Võ N thấy anh Nguyễn Văn T3 đang uống rượu tại nhà của anh Lý Chánh T4, tại khu phố B, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang và một số người khác nên Lê Võ N đi vào ngồi ghế nhìn đối diện với T3. Lê Võ N và T3 nói chuyện qua lại thì cãi nhau, Lê Võ N đứng dậy dùng ghế mũ đang ngồi đánh vào đầu anh T3 nhưng anh T3 đưa tay lên đỡ nên không trúng. Lê Võ N lấy dao bấm mang theo trong túi quần ra định đâm T3 thì được mọi người bên nhóm T3 cản lại. Lúc này, Hữu N1 đi tới dùng tay phải đấm 02 cái vào mặt của T3 thì T3 bỏ chạy về hướng cổng chào thị xã C bị vấp té. Lê Võ N, Hữu N1, L1 và A đuổi theo T3. T3 ngồi dậy thì bị Hữu N1 dùng chân đá 01 cái vào ngực và cầm dao đâm 02 cái vào chân Tài. Lúc này, Lê Võ N chạy tới bị vấp nên dao cầm trên tay đâm trúng đùi trái và cẳng chân trái của T3, L1 cầm dao đâm về phía người T3 trúng cẳng chân trái của T3, dùng chân đá trúng 01 cái vào người T3. T3 bỏ chạy thì Lê Võ N đâm tiếp trúng 01 cái vào đùi gần mông phải của T3, T3 tiếp tục bỏ chạy khi đến trước cửa hàng T6 di động thì vấp té, Hữu N1 cầm dao đâm 02 cái trúng chân của T3, Lê Võ N và L1 tiếp tục dùng chân đá trúng vào người của T3. Thời điểm này nhóm người uống rượu chung với T3 vào can ngăn nên nhóm của Lê Võ N lên xe bỏ đi. Anh T3 được người quen đưa đến Bệnh viện Đ cấp cứu và được chuyển đến Bệnh viện C1 điều trị.

Ngày 25/11/2023, Lê Võ N cùng Hữu N1 và L1 đến Cơ quan Công an đầu thú về hành vi phạm tội của mình và giao nộp hung khí gây án.

Vật chứng thu giữ:

  • + 01 con dao bấm bằng kim loại màu đen, mũi nhọn, 01 lưỡi cắt, dài 24cm, lưỡi dao dài 11 cm, cán dao có hình con bò cạp in nổi (dao của Lê Võ N giao nộp).
  • + 01 dao Thái Lan cán màu vàng, mũi bầu, dao dài 21,5cm, lưỡi dài 11,5cm, cán dao dài 10cm, dao 01 lưỡi cắt (dao của Hữu N1 giao nộp).
  • + 01 dao Thái Lan cán màu vàng, mũi bầu lệch về bên trái, lưỡi có nhiều vết xước, dao dài 21,5cm, lưỡi dài 11,5cm, cán dao dài 10cm, dao 01 lưỡi cắt (dao của L1 giao nộp).
  • + 01 xe mô tô biển số 59K1 - 029.24.
  • + 01 xe mô tô biển số 71F7-5925.
  • + 01 đoạn Video ghi lại diễn biến sự việc.

Giấy chứng nhận thương tích số 1297/CN-BVCR ngày 22/11/2023 của Bệnh viện C1 chứng nhận thương tích của Nguyễn Văn T3 như sau:

  • + Xây xác da vùng ngực, bụng, tứ chi.
  • + Chân phải: Vết thương mông khoảng 10cm, 1/4 trên trong, lộ cơ đứ hai vết thương mặt sau trong 1/3 giữa trên đùi, mỗi vết thương khoảng 3,3 cm vết thương giữa hai mông khoảng 0,1 cm.
  • + Chân trái: Vết thương 1/3 dưới đùi khoảng 02cm; vết thương 1/3 trên mặt trước ngoài cẳng chân khoảng 04cm; vết thương mặt ngoài 1/3 giữa căng chân khoảng 02cm.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 417-2023/KLTTCT-TTPY ngày 28/11/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T kết luận:

  1. Các kết quả chính:

Kết quả khám giám định:

  • + Sẹo vết thương mông phải.
  • + Sẹo vết thương giữ hai mông.
  • + Hai sẹo vết thương 1/3 trên trong đùi phải.
  • + Sẹo vết thương 1/3 dưới ngoài đùi ngoài trái.
  • + Sẹo vết thương 1/3 giữa trước cẳng chân trái.
  • + Sẹo vết thương 1/3 giữa ngoài cẳng chân trái.
  1. Kết luận:

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Văn T3 là 09%.

* Kết luận khác:

- Xác định vật gây thương tích: Thương tích Nguyễn Văn T3 do vật sắc nhọn gây nên.

- Phân tích tỷ lệ phần trăm từng vết thương:

  • + Sẹo vết thương mông phải. Tỷ lệ: 02% (Hai phần trăm).
  • + Sẹo vết thương giữ hai mông. Tỷ lệ: 01% (Một phần trăm).
  • + Hai sẹo vết thương 1/3 trên trong đùi phải. Tỷ lệ: 01% (Một phần trăm).
  • + Sẹo vết thương 1/3 dưới ngoài đùi ngoài trái. Tỷ lệ: 01% (Một phần trăm).
  • + Sẹo vết thương 1/3 giữa trước cẳng chân trái. Tỷ lệ: 02% (Hai phần trăm).
  • + Sẹo vết thương 1/3 giữa ngoài cẳng chân trái. Tỷ lệ: 01% (Một phần trăm).

Tại bản Cáo trạng số 47/CT-VKSTXCL ngày 04/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Lê Võ N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự, truy tố các bị cáo Phan Hữu N1 và Trần Minh L1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa,

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã C trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Lê Võ N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự, truy tố các bị cáo Phan Hữu N1 và Trần Minh L1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố các bị cáo Lê Võ N, Phan Hữu N1 và Trần Minh L1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Lê Võ Nhân t 06 – 09 tháng tù.
  • Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; Điều 17, Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Phan Hữu Nhân t1 06 – 09 tháng tù.
  • Xử phạt bị cáo Trần Minh L1 từ 06 – 09 tháng tù.
  • - Đối với vật chứng, đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Các bị cáo không trình bày lời bào chữa. Nói lời nói sau cùng các bị cáo trình bày biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo. Xét thấy:

Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Võ N, Phan Hữu N1 và Trần Minh L1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Bị cáo Lê Võ N khai nhận giữa bị cáo và anh T3 có mâu thuẩn khi nhắn tin trên mạng xã hội nên khoảng 22 giờ 45 phút ngày 10/11/2023 tại khu phố B, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, khi gặp T3 đang nhậu tại nhà của anh T4 thì bị cáo và T3 nói chuyện qua lại rồi cãi nhau. Các bị cáo Phan Hữu N1 và Trần Minh L1 khai nhận giữa các bị cáo và anh T3 không có mâu thuẩn, vào lần xảy ra sự việc cũng là lần đầu tiên các bị cáo gặp anh T3 chỉ vì bị cáo Hữu N1 và bị cáo L1 thấy bị cáo Lê Võ N đánh và lấy dao ra có ý định đâm anh T3 nên các bị cáo giúp sức cho bị cáo Võ N dùng dao gây thương tích cho anh T3.

Lời khai nhận tội trên của các bị cáo cơ bản đã phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết quả giám định pháp y, lời khai của người bị hại, người làm chứng và các lời khai trước đây của các bị cáo tại cơ quan điều tra cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 417-2023/KLTTCT-TTPY ngày 28/11/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T thì tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Văn T3 là 09%. Ngày 15/11/2023 anh Nguyễn Văn T3 có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với các các bị cáo.

Vì vậy đủ cơ sở xác định bị cáo Lê Võ N phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự, truy tố các bị cáo Phan Hữu N1 và Trần Minh L1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Xét thấy, các bị cáo Lê Võ N, Phan Hữu N1 và Trần Minh L1 là người đã thành niên, có đầy đủ sức khoẻ và khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo nhận thức được sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật. Thế nhưng, chỉ vì mâu thuẩn nhỏ giữa bị cáo Lê Võ N và anh T3 mà các bị cáo Lê Võ N, Phan Hữu N1 và Trần Minh L1 đã dùng dao là hung khí nguy hiểm cố ý gây thương tích cho anh T3.

Hành vi phạm tội trên đây của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi của các bị cáo gây tư tưởng hoang mang trong nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, cũng như phòng ngừa chung cho các đối tượng khác.

Xét thấy, khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên cũng cần phải đánh giá vai trò, mức độ tham gia và nhân thân của từng bị cáo, để áp dụng mức hình phạt tương xứng, vừa thể hiện tính nghiêm minh, vừa thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

Trong vụ án này bị cáo Lê Võ N là người khởi xướng đánh anh T3 và thực hiện từ đầu đến khi kết thúc nên có vai trò chính. Các bị cáo Phan Hữu N1 và Trần Minh L1, dù không quen biết anh T3 nhưng là bạn của Lê Võ N nên tham gia giúp sức và trực tiếp thực hiện hành vi đánh, dùng dao đâm anh T3, trong đó mức độ tham gia giúp sức và thực hiện hành vi của bị cáo Phan Hữu N1 quyết liệt hơn so với bị cáo Trần Minh L1.

Bên cạnh đó, bị cáo Lê Võ N là người có nhân thân xấu, từng bị xử lý hành chính về hành vi dùng gạch ném vào người khác. Bị cáo không ăn năn hối cải mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới.

Trong quá trình tại ngoại điều tra bị cáo Lê Võ N và bị cáo Phan Hữu N1 lại tiếp tục bị xử lý hành chính về hành vi "mang theo trong người hoặc tàng trữ cất giấu các loại vũ khí thô sơ, công cụ hổ trợ hoặc các loại công cụ phương tiện khác có khả năng sát thương; đồ vật, phương tiện giao thông nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng; cố ý gây thương tích cho người khác”; “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”; điều này cho thấy các bị cáo có ý thức xem thường pháp luật.

Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc nhưng phải tương xứng với mức độ tham gia và nhân thân của từng bị cáo như đã phân tích trên.

Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã đến Công an thị xã C đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[4] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với: 01 con dao bấm bằng kim loại màu đen, mũi nhọn, 01 lưỡi cắt, dài 24cm, lưỡi dao dài 11 cm, cán dao có hình con bò cạp in nổi (dao của Lê Võ N giao nộp); 01 dao Thái Lan cán màu vàng, mũi bầu, dao dài 21,5cm, lưỡi dài 11,5cm, cán dao dài 10cm, dao 01 lưỡi cắt (dao của Hữu N1 giao nộp) và 01 dao Thái Lan cán màu vàng, mũi bầu lệch về bên trái, lưỡi có nhiều vết xước, dao dài 21,5cm, lưỡi dài 11,5cm, cán dao dài 10cm, dao 01 lưỡi cắt (dao của L1 giao nộp) là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với xe mô tô biển số 59K1 - 029.24 và xe mô tô biển số 71F7-5925: do bị cáo Lê Võ N giao nộp, bị cáo N khai nguồn gốc xe là do bị cáo mua lại của người khác nhưng chưa làm thủ tục sang tên, không có tài liệu chứng minh mua bán cũng như tài liệu để chứng minh quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo Lê Võ N đối với các tài sản này. Hội đồng xét xử xét thấy cần giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C tiếp tục tạm giữ xe mô tô biển số 59K1 - 029.24 và xe mô tô biển số 71F7-5925 để điều tra làm rõ, xử lý sau.
  • - Đối với 01 đoạn Video ghi lại diễn biến sự việc: Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Đối với A đã cùng tham gia với nhóm của các bị cáo đánh nhau, hiện không rõ nhân thân nên chưa làm việc được. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã C tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

[7] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.

* Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về Hình phạt

- Tuyên bố các bị cáo Lê Võ N, Phan Hữu N1 và Trần Minh L1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử: Phạt bị cáo Lê Võ N 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bắt thi hành án.

- Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử: Phạt bị cáo Phan Hữu N1 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bắt thi hành án.

- Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự;

Xử: Phạt bị cáo Trần Minh L1 05 (năm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bắt thi hành án.

  1. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bấm bằng kim loại màu đen, mũi nhọn, 01 lưỡi cắt, dài 24cm, lưỡi dao dài 11 cm, cán dao có hình con bò cạp in nổi (dao của Lê Võ N giao nộp); 01 dao Thái Lan cán màu vàng, mũi bầu, dao dài 21,5cm, lưỡi dài 11,5cm, cán dao dài 10cm, dao 01 lưỡi cắt (dao của Hữu N1 giao nộp) và 01 dao Thái Lan cán màu vàng, mũi bầu lệch về bên trái, lưỡi có nhiều vết xước, dao dài 21,5cm, lưỡi dài 11,5cm, cán dao dài 10cm, dao 01 lưỡi cắt (dao của L1 giao nộp).

(Các vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/5/2024)

  1. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Lê Võ N, Phan Hữu N1 và Trần Minh L1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND Thị xã Cai Lậy;
  • - CQĐT Công an Thị xã Cai Lậy;
  • - Chi cục THADS Thị xã Cai Lậy;
  • - Nhà tạm giữ;p
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Cẩm Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG về hình sự - cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 69/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Võ N, Phạm Minh N và Trần Minh L - Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger