TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 69/2024/HS-ST Ngày 23-05-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Thế Hải - Cán bộ hưu trí.
- Ông Nguyễn Đắc Hưng - Bí thư Đoàn thanh niên phường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân, Thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST-HS ngày 08/05/2024, đối với bị cáo:
- Mai Văn T, sinh ngày 20/8/2002 tại phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Bố: Không xác định; mẹ: Mai Thị C. Vợ con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 14/12/2018, bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T (nay là thị xã N) khởi tố về tội trộm cắp tài sản. Đến ngày 05/3/2019, được Viện kiểm sát nhân dân huyện Tĩnh Gia (nay là VKSND thị xã Nghi Sơn) ra quyết định đình chỉ miễn trách nhiệm hình sự theo khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/01/2024 đến nay. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã N. Có mặt tại phiên tòa.
1
- Hoàng Thành T1, sinh ngày 08/6/2005 tại phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Bố: Hoàng Văn T2; mẹ: Lê Thị N. Vợ con: Chưa có.
Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 27/01/2022, bị Công an thị xã N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác.
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/01/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Văn T3, sinh ngày 08/6/2006 tại phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Bố: Nguyễn Văn T4; mẹ: Nguyễn Thị L. Vợ con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/01/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Hoàng Văn Đ, sinh ngày 17/01/2002 tại phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Bố: Hoàng Văn D, mẹ: Nguyễn Thị Bích. Vợ con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/11/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
* Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Văn T3:
Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1982, HKTT: Tổ dân phố Đ, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ở hiện nay: Tổ D, KV9, phường Đ, TP Q (bố đẻ của Nguyễn Văn T3).
Đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T4: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1985, địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
2
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T3: Ông Lê Khắc H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc chi nhánh T13 pháp lý số 3, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T. (có mặt)
* Người bào chữa cho bị cáo Hoàng T5 Tân: Bà Mai Thùy L1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc chi nhánh T13 pháp lý số 3, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T. (vắng mặt)
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Trần Dư P - Sinh năm 2008 (vắng mặt)
- Bùi Khắc Dương M, sinh năm 2007 (có mặt)
- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1985, địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. (có mặt)
Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị T6, sinh năm 1970
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố H, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Khắc D1, sn 1981 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố D, phường H, thị xã N, Thanh Hóa.
* Những người làm chứng:
- Lê Hồng A, sinh năm 2007 (có mặt)
- Hoàng Văn V, sinh năm 2001, địa chỉ: Tổ dân phố D, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)
- Lê Ngọc T7, sinh năm 2004, địa chỉ: Tổ D, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)
- Lê Công D2, sinh năm 2005, địa chỉ: Tổ dân phố H, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)
- Nguyễn Văn P1, sinh ngày 28/10/2006. (vắng mặt)
- Nguyễn Văn Trường P2, sinh năm 2007 (vắng mặt)
Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị H1, sinh năm 1974 (có mặt)
HKTT: Tổ dân phố N, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện tại: Tổ dân phố T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Đ1, sn 1970 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố H, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn C1, sn 1971 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
3
- Lê Duy P3, sinh năm 2007 (vắng mặt)
- Lê Công N1, sinh năm 2006 (vắng mặt)
Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị C2, sinh năm 1972 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố H, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị T8, sinh năm 1969 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố H, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 03/12/2022, tại khu vực cây xăng P4 thuộc tổ dân phố D, phường H, Lê Duy P3 và Nguyễn Văn Trường P2 cùng trú tại tổ dân phố Đ, phường H đang đi trên đường thì gặp nhóm thanh niên, gồm Bùi Khắc Dương M; Hoàng Thành T; Hoàng Văn Đ, đều trú tại tổ dân phố D, phường H và Nguyễn Văn T3 cùng một số người bạn đang đi hướng ngược lại. Khi gặp Lê Duy P3, M thấy giống người đã có mâu thuẫn với mình trước đó nên bảo T1 chặn xe của P3, sau đó đi lại tát vào mặt P3 một cái. Sau khi được mọi người can ngăn, nhóm của M đi đến quán B1 ở tổ dân phố D, phường H, còn Lê Duy P3 và Nguyễn Văn T9 P3 đi đến khu vực trước cổng trường THPT T14 II thuộc phường H, thị xã N thì gặp Trần Dư P, cả ba rủ nhau đi đến quán café L2 cũng ở tổ dân phố D, phường H để uống nước.
Khi nhóm của Lê Duy P3 đi qua quán B1 nơi nhóm của Bùi Khắc Dương M đang chơi, M nhìn thấy P3 nên cầm theo gậy bi-a rồi cùng với Nguyễn Văn T3 cầm đoạn gậy sắt dài khoảng 60cm, ngồi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ, đen, bạc, biển kiểm soát 36C1-369.45 do Hoàng Văn Đ điều khiển, đuổi theo xe của P3 đến khu vực nhà văn hóa tổ dân phố D3, phường H, M bảo Đ cho xe áp sát vào xe của nhóm Lê Duy P3, Minh giơ gậy bi-a lên vụt một cái vào đầu P. Bị đánh, nhóm của P3 bỏ chạy còn M, T3, Đ quay lại quán bi-a T10. Khi về đến quán, Đ xuống xe còn T3 chở M đến trước cửa hàng tạp hóa nhà chị Đinh Thị T11 (sinh năm 1990, trú tại tổ dân phố D, phường H) lấy 01 két vỏ chai nước ngọt Number one mang lại quán bi-a T10 để phòng khi nhóm của P3 quay lại thì sẽ dùng làm hung khí đánh nhau. Về phần P sau khi bị đánh được Lê Duy P3 và Nguyễn Văn T9 P3 chở về nhà ở phường H. Khi về đến nhà, P gọi điện cho Lê Đình Đ2, Nguyễn Văn P1, Lê Công N1, Lê Công
4
D2, đều trú tại phường H, thị xã N rủ số người này đi cùng đến quán bi-a T10 với mục đích gặp và hỏi nhóm của M lý do tại sao đánh P.
Cùng thời điểm này, M cũng gọi điện cho Hoàng T5 T1, bảo T1 xuống quán B1 vì có người sắp xuống đánh M. Sau đó, T1 gọi cho Mai Văn T nhờ T đến quán B1 để giúp đỡ. T1 và T đến quán B1 gặp nhóm của M. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm của P, Đ2, P1, N1, D2 đi đến quán B1. Khi đến nơi, Đ2 xuống xe vào hỏi nhóm của M về việc đánh P, thì T lấy vỏ chai number one ném vào nhóm của P nhưng không trúng ai, vỏ chai rơi xuống đường, bị vỡ. Thấy vậy, nhóm của P bỏ chạy, T1 cầm một đoạn gậy bi-a giơ lên đánh trúng vào lưng P, P chạy về hướng cổng trường THPT T14, thì bị M cầm đoạn gậy sắt dài khoảng 60cm đuổi theo, còn T1 đi mô tô nhãn hiệu Sirius, màu trắng, đỏ, đen biển kiểm soát 36B1 938.27 chở T đuổi theo P. Khi P chạy đến trước cổng trường THPT T14, thì bị T và Tân đuổi kịp và yêu cầu lên xe, vì P muốn quay lại để giải quyết mâu thuẫn nên đã lên xe mô tô của T1 để quay lại quán bi-a T10. Tại đây, T và M dùng vỏ chai number one đánh vào đầu P, còn T1 dùng cán ô đánh vào tay trái của P. Sau đó được mọi người can ngăn, nhóm của M trở về nhà còn P được đưa đến bệnh viện.
Quá trình điều tra đã chứng minh, làm rõ hành vi phạm tội của các bị can như sau:
- (1) Nguyễn Văn T3 có hành vi cầm cán ô cùng M ngồi phía sau xe mô tô do Hoàng Văn Đ điều khiển, lùa đuổi theo xe mô tô của Lê Duy P3 trên quãng đường khoảng 600m trong khu vực đông dân cư, thời điểm có nhiều phương tiện di chuyển gây nguy hiểm cho người và phương tiện đang tham gia giao thông, gây mất an ninh trật tự. Ngoài ra, T3 còn chở M đến quán tạp hóa lấy 01 két vỏ chai nước ngọt Number one là hung khí tấn công nhóm của P.
- (2) Hoàng Văn Đ có hành vi điều khiển xe mô tô chở M và T3 lùa đuổi theo xe mô tô của Nguyễn Văn T9 P3 điều khiển chở Lê Duy P3 và Trần Dư P trên quãng đường dài khoảng 600m trong khu vực đông dân cư, Đ còn cho xe áp sát xe của nhóm P3 để M dùng gậy bi-a đánh gây thương tích cho P.
- (3) H T1 có hành vi cầm gậy bi-a đánh vào lưng của P, khi P bỏ chạy, T1 điều khiển xe mô tô chở T lùa đuổi theo P trong khu vực đông dân cư, trên quãng đường dài khoảng 50m.
5
- (4) Mai Văn T có hành vi ném vỏ chai Number one về phía nhóm của P, cùng Hoàng T5 Tân lùa đuổi nhóm của P, đưa P quay lại quán bi-a, rồi dùng vỏ chai Number one đánh vào đầu P.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 tệp video được lưu trữ trong 01 USB màu xám, ghi nhãn hiệu JVJ, ghi lại hình ảnh một số đối tượng lùa đuổi đánh nhau được trích xuất từ camera của gia đình chị Trần Thị L3.
Tại bản kết luận giám định số 1364/KL-KTHS ngày 06/4/2023, phòng K Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 01 tệp video của 01 USB gửi giám định. Sau giám định, phòng K Công an tỉnh T đã hoàn lại chiếc USB kèm theo các tài liệu giám định để đưa vào hồ sơ vụ án theo quy định.
Tại bản kết luận giám định pháp y đối với trẻ em bị hành hạ, ngược đãi, đánh đập số 1546/2022/TTPY-TTTE ngày 05/01/2023, Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: Tỷ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Trần Dư P là 02%.
Tại bản kết luận giám định pháp y về hung khí số 1574/2022/TTPY ngày 06/01/2023, Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận:
- Vết thương rách da tại vị trí sau đỉnh đầu trái: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày có cạnh hoặc vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn.
- Vết bầm tím kích tại vị trí mặt trước khuỷu tay trái và vết bầm tím tại vị trí bên phải phía sau lưng: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tài hoặc vật tày có cạnh.
Tại kết luận giám định bổ sung vật gây thương tích số 1121B/KLVGTT-PYTH ngày 19/8/2023, Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: Đối với những thương tích gây ra cho Trần Dư P như đã ghi nhận trong hồ sơ giám định nếu không được đưa đi cấp cứu kịp thời có thể gây tử vong cho anh Trần Dư P.
Quá trình điều tra xác định, Trần Dư P bị các đối tượng Bùi Khắc Dương M, Hoàng Thành T1, Mai Văn T và Hoàng Văn Đ đánh gây thương tích, khiến anh P bị tổn thương cơ thể là 02%, hành vi của các đối tượng có dấu hiệu của tội cố ý gây thương tích quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, Trần Dư P có đơn xin rút yêu cầu khởi tố đối với các đối tượng đã gây thương tích cho
6
mình nên không có căn cứ khởi tố hình sự đối với M, T1, T, Đ về hành vi cố gây thương tích.
Trong vụ án này, Bùi Khắc Dương M có hành vi cùng Mai Văn T, Hoàng Văn Đ, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Thành T12 lùa đuổi đánh Trần Dư P, tại thời điểm xảy ra vụ án, Bùi Khắc Dương M 15 tuổi 06 tháng 23 ngày nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về hành vi gây rối trật tự công cộng quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra các bị can đã thành khẩn khai báo hành vi gây rối trật tự công cộng của bản thân và đồng phạm, lời khai của các bị can phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, hình ảnh Video clip thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ:
- 01 đoạn gậy gỗ hình trụ màu nâu vàng dài 37cm, một đầu rộng 2cm, một đầu rộng 1cm, hai đầu đoạn gậy gỗ bị gãy nham nhở. (đoạn gậy bi-a bị gãy).
- 01 đoạn gậy gỗ hình trụ màu nâu vàng dài 37cm, chiều rộng của hai đầu gậy là 1cm, hai đầu của đoạn gậy bị gãy nham nhở (đoạn gậy bi-a bị gãy).
- 01 xe mô tô Honda wave alpha, màu sơn đỏ đen bạc, BKS: 36C1-369.45, số khung: 3904HY852175, số máy: JA39E0832321, xe đã qua sử dụng.
- 01 đăng ký xe mô tô số 027482 cấp cho xe Honda Wave alpha, BKS 36C1- 369.45 mang tên Lê Hữu H2, SN 1960, trú tại thôn N, xã H, thị xã N, Thanh Hóa.
Hiện các vật chứng trên đang được bảo quản chờ xử lý theo quy định.
Đối với đoạn gậy sắt dài khoảng 60m, màu trắng; 01 két vỏ chai thủy tinh (loại chai nước ngọt number one) màu trắng và 01 đoạn gậy bi-a màu nâu dài khoảng 80cm các đối tượng sử dụng làm hung khí đánh nhau, gây rối trật tự công cộng, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả.
Đối với chiếc xe mô tô Sirius, màu trắng, đỏ, đen biển kiểm soát 36B1-938.27 là phương tiện H T12 sử dụng lùa đuổi theo Trần Dư P, hiện nay chiếc xe đã bị hư hỏng và chủ sở hữu là anh Lâm Ngọc H3 đã bán cho người khác (chưa xác định được danh tính, địa chỉ) nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
7
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình các đối tượng Bùi Khắc Dương M, H Tân và Mai Văn T đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho Trần Dư P, anh P không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
Tại bản Cáo trạng số 72/CT-VKSNS ngày 11/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Nghi Sơn truy tố các bị cáo Mai Văn T, Hoàng Thành T1, Nguyễn Văn T3 và Hoàng Văn Đ về tội gây rối trật tự công cộng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Nghi Sơn giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Mai Văn T;
- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38; Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự đối với Hoàng Thành T1;
- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65; Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn T3;
- Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với Hoàng Văn Đ;
Đề nghị tuyên bố: Các bị cáo Mai Văn T, Hoàng Thành T1, Nguyễn Văn T3, Hoàng Văn Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Đề nghị xử phạt:
Bị cáo Mai Văn T từ 25 đến 26 tháng tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/01/2024;
Bị cáo Hoàng T5 Tân 17 đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Bị cáo Nguyễn Văn T3 17 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 34 đến 36. Giao bị cáo cho UBND phường H giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Bị cáo Hoàng Văn Đ 24 đến 25 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 đến 20 tháng. Giao bị cáo cho UBND phường H giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
+ Về vật chứng: Đề nghị trả lại cho anh Nguyễn Văn B chiếc mô tô honda wave anpha biển kiểm soát 36C1-369.45.
8
Phần tranh luận: Các bị cáo không có ý kiến tự bào chữa và tranh luận. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T3 đề nghị HĐXX áp dụng nguyên tắc các quy định của pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T3. Người bào chữa cho bị cáo Hoàng T5 T1 vắng mặt nhưng đã gửi bài bào chữa cho bị cáo T1, đề nghị HĐXX áp dụng nguyên tắc các quy định của pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội, đồng thời xem xét bị cáo T1 đang bị khuyết tật để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T1.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo nhận tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của những người làm chứng và với dữ liệu hình ảnh trích xuất từ camera tại hiện trường thời điểm xảy ra vụ việc; phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Trong khoảng thời gian từ 20h30 đến 22h30 ngày 03/12/2022, các bị cáo Mai Văn T, Hoàng Thành T1, Hoàng Văn Đ và Nguyễn Văn T3 đã có hành vi ném vỏ chai thủy tính và cầm theo gậy bi-a, gậy sắt, điều khiển xe mô tô lùa đuổi đánh nhóm của Trần Dư P trên đường giao thông thuộc khu vực tổ dân phố D, phường H, thị xã N.
Hành vi của các bị cáo diễn ra trên đường phố trong khu vực đông dân cư, gần trường học thời điểm có nhiều phương tiện đang di chuyển. Gây mất trật tự trị an xã hội, bất an trong quần chúng nhân dân.
9
Như vậy, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ pháp luật.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Mai Văn T, Hoàng Thành T1, Nguyễn Văn T3, Hoàng Văn Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” với tình tiết định khung tăng nặng là “dùng vũ khí, hung khí”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Trong vụ án, còn có đối tượng Bùi Khắc Dương M có hành vi “gây rối trật tự công cộng”, tuy nhiên, tại thời điểm phạm tội, M chưa đủ 16 tuổi, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Bùi Khắc Dương M là phù hợp theo Điều 12 Bộ luật hình sự.
[3] Về tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm và vai trò của các bị cáo:
Hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm tới trật tự công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ.
Thời gian gần đây, các vụ gây rối trật tự công cộng có xu hướng gia tăng và ngày càng diễn biến phức tạp. Nguyên nhân của tình trạng này xuất phát từ một bộ phận giới trẻ do thiếu kỹ năng sống và nhận thức pháp luật kém.
Trật tự xã hội là trạng thái ổn định, có kỷ luật ở nơi công cộng. Khu vực đường phố, trong khu dân cư, gần trường học, nơi nhiều người sinh sống, làm việc, kinh doanh. Nhưng các bị cáo lại tụ tập, cầm theo hung khí, sử dụng xe mô tô để lùa đuổi đánh nhau gây ồn ào náo loạn. Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương.
Do đó cần phải được xử lý nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo mới có sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Đây là vụ án mang tính đồng phạm giản đơn, các bị can Mai Văn T, Hoàng Thành T1, Nguyễn Văn T3 và Hoàng Văn Đ đều là những người trực tiếp thực hiện tội phạm và có vai trò ngang nhau trong vụ án.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Tất cả bốn bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Hoàng Văn Đ có ông bà ngoại và bà nội là người có công với cách mạng; tại địa phương, gia đình bị cáo tích cực ủng hộ quỹ khuyến học hàng năm.
10
Bị cáo Nguyễn Văn T3 có ông bà nội là người có công với cách mạng, có bác ruột là liệt sỹ; bố đẻ bị cáo T3 bị thương tật 41% do tai nạn lao động. Bị cáo Hoàng Thành T1 có ông bà nội và ông ngoại là người có công với cách mạng; bản thân bị cáo bị tai nạn giao thông sau khi phạm tội (năm 2023), chẩn đoán đa gãy xương, liệt đám rối thần kinh cánh tay phải, liệt thần kinh quay phải (Chưa giám định tỉ lệ thương tật); hiện tại quan sát bằng mắt thường thấy bị cáo không vận động được tay phải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Giảm nhẹ một phần hình phạt để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
- Về nhân thân:
Bị cáo Mai Văn T từng bị Công an huyện T (nay là thị xã N) khởi tố về tội trộm cắp tài sản năm 2018, đã được Viện kiểm sát nhân dân huyện Tĩnh Gia (nay là VKSND thị xã Nghi Sơn) ra quyết định đình chỉ miễn trách nhiệm hình sự theo khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Hoàng Thành T1 có tiền sự về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác vào tháng 01/2022, chưa được xóa tiền sự lại phạm tội.
* Căn cứ vào tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của từng bị cáo thì thấy:
Bị cáo Mai Văn T và bị cáo Hoàng Thành T1 có nhân thân xấu. Đã từng bị cơ quan pháp luật xử phạt nhưng các bị cáo lại không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật với tính chất mức độ nghiêm trọng hơn. Mặc dù bị cáo Tân thời điểm phạm tội chưa thành niên nhưng mới bị cáo bị xử phạt hành chính về tội xâm phạm sức khỏe của người khác, chưa được xóa tiền sự lại tiếp tục phạm tội. Mặt khác, trong vụ án này, các bị cáo T và T1 là người tích cực thực hiện tội phạm, không chỉ lùa đuổi nhau trên đường mà còn đã trực tiếp dùng hung khí đánh gây thương tích cho người khác. Vì vậy, cần xử phạt tù bị cáo T và bị cáo T1 một thời gian, tương ứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục và phòng ngừa chung.
Đối với các bị cáo Nguyễn Văn T3 và Hoàng Văn Đ có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, lần đầu phạm tội, ngoài lần phạm tội này, các bị cáo luôn chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vì vậy, xử phạt tù bị cáo Đ,
11
T3 nhưng xem xét cho hưởng án treo, cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền nơi cư trú.
Ngoài ra, cần xét bị cáo Hoàng T5 T1 và bị cáo Nguyễn Văn T3 khi phạm tội là người chưa thành niên nên cần áp dụng các quy định, nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Dựa trên cơ sở phân tích về tâm lý của người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và về tinh thần, bị hạn chế về nhận thức cũng như kinh nghiệm, kỹ năng sống. Đây là độ tuổi phát triển nhanh chóng về thể chất nhưng có nhiều bất ổn về tâm sinh lý, thậm chí nổi loạn, thiếu kỹ năng kiểm soát cảm xúc dẫn đến những hành động liều lĩnh, gây nguy hiểm cho bản thân và cho người xung quanh. Nên mức hình phạt đối với Hoàng Thành T1 và Nguyễn Văn T3 thấp hơn.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Các vật chứng gồm: Các gậy gỗ thu giữ được tại hiện trường là hung khí các bị cáo cầm làm hung khí lùa đuổi đánh nhau, các gậy đã gãy nham nhở, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Chiếc xe mô tô 02 bánh, nhãn hiệu: Honda, số loại: wave alpha, BKS 36C1 369.45và 01 đăng ký xe mô tô BKS: 36C1369.45 mang tên Lê Hữu H2. Đây là xe máy của ông Nguyễn Văn B là chú ruột của bị cáo Nguyễn Văn T3 (ông B đã mua của ông Lê Hữu H2 ngày 15/11/2022). Bị cáo T3 tự ý lấy xe của ông B để sử dụng chở các bị cáo khác lùa đuổi đánh nhau, gây rối trật tự công cộng, ông B không biết. Vì vậy, cần trả lại chiếc xe máy ông Nguyễn Văn B là phù hợp.
[6] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Mai Văn T;
- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38; Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự đối với Hoàng Thành T1;
- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65; Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn T3;
12
- Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với Hoàng Văn Đ;
Tuyên bố: Các bị cáo Mai Văn T, Hoàng Thành T1, Nguyễn Văn T3, Hoàng Văn Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt:
Bị cáo Mai Văn T 25 (hai mươi lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/01/2024;
Bị cáo Hoàng Thành T (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Bị cáo Hoàng Văn Đ 24 (hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao các bị cáo Hoàng Văn Đ cho UBND phường H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Bị cáo Nguyễn Văn T3 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao các bị cáo Nguyễn Văn T3 cho UBND phường H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 3 Điều 92; Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự. Người được hưởng án treo có thể bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo nếu trong thời gian thử thách mà cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bọc giấy được niêm phong bởi chữ ký chữ viết của những người có liên quan và hình dấu của Công an Phường H, bên trong có: 01 đoạn gậy gỗ hình trụ màu nâu vàng dài 37cm, một đầu rộng 2cm, một đầu rộng 1cm, hai đầu đoạn gậy gỗ bị gãy nham nhở; 01 đoạn gây gỗ hình trụ màu nâu vàng dài 37cm, chiều rộng của hai đầu gậy là 1cm, hai đầu của đoạn gậy bị gãy nham nhở.
- Trả lại cho ông Nguyễn Văn B 01 (một) xe mô tô 02 bánh, nhãn hiệu: Honda, số loại: wave alpha, dung tích 109cm³, màu sơn; đỏ đen bạc, BKS 36C1 369.45,
13
số khung RLHJA3904HY852175, số máy: JA39E-0832321, đã qua sử dụng và 01 đăng ký xe mô tô BKS: 36C1369.45 mang tên Lê Hữu H2.
Toàn bộ số vật chứng này hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã N với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn (phiếu nhập kho số NK2024/72 ngày 25/4/2024).
Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Mục 1 phần I Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết. Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo đối với phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Lê Thế Hải | Nguyễn Thanh Huyền |
| Nguyễn Đắc Hưng |
14
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Huyền |
15
Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về gây rối trật tự công cộng (vụ án hình sự)
- Số bản án: 69/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ 20h30 đến 22h30 ngày 03/12/2022, các bị cáo Mai Văn T, Hoàng Thành T1, Hoàng Văn Đ và Nguyễn Văn T3 đã có hành vi ném vỏ chai thủy tính và cầm theo gậy bi-a, gậy sắt, điều khiển xe mô tô lùa đuổi đánh nhóm của Trần Dư P trên đường giao thông thuộc khu vực tổ dân phố D, phường H, thị xã N. Hành vi của các bị cáo diễn ra trên đường phố trong khu vực đông dân cư, gần trường học thời điểm có nhiều phương tiện đang di chuyển. Gây mất trật tự trị an xã hội, bất an trong quần chúng nhân dân.
