Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THANH XUÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/DS - ST

Ngày: 22 - 7 - 2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Chu Thị Tuyết .
  2. Ông Nguyễn Quang Đạt.

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thanh Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh H – Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 91/2023/TLST - DS ngày 24 tháng 10 năm 2023 về việc: "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST - DS ngày 14/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2024/QĐST - DS ngày 03/7/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á (sau đây gọi tắt là Ngân hàng A); địa chỉ: D N, phường E, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tiến P, chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị T; chức vụ: Giám đốc xử lý nợ (theo Giấy ủy quyền số 69/UQ - QLN.22 ngày 20/01/2022 của ông Từ Tiến P).

Người được bà T ủy quyền: Bà Đào Thị L - Nhân viên xử lý nợ (theo Giấy ủy quyền số 2049/UQ - CNTL.24 ngày 07/6/2024 của bà Phạm Thị T). Có mặt.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1982; địa chỉ: P1106 nhà N2D Đô thị T - N, phường N, quận T, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện ủy quyền Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á trình bày:

Ngân hàng A cấp thẻ tín dụng cho chị Nguyễn Thị M căn cứ theo: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng của chị Nguyễn Thị M ký ngày 26/03/2020; Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A; Các văn bản khác của bà Nguyễn Thị M ký với A về việc sử dụng thẻ tín dụng.

Chi tiết như sau:

  • Số thẻ tín dụng: 4791 39 ****** 2721
  • Ngày cấp: 26/03/2020
  • Loại thẻ: Thẻ tín dụng quốc tế
  • Hạn mức thẻ: 50.000.000 đồng
  • Hiệu lực thẻ: 36 tháng
  • Lãi suất (trong hạn, quá hạn), phí: Theo Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A.

Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, chị Nguyễn Thị M đã không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng A theo thông báo giao dịch hàng tháng. Do đó, ngày 10/07/2021, Ngân hàng A đã chuyển khoản thẻ sang nợ quá hạn, đồng thời quyết định chấm dứt việc sử dụng thẻ và thu hồi toàn bộ nợ thẻ chưa thanh toán của chị Nguyễn Thị M. Từ ngày 26/3/2020 đến ngày 22/7/2024, chị Nguyễn Thị M đã thanh toán cho Ngân hàng được số tiền là 77 đồng được trừ vào nợ gốc.

Theo công văn số 343/NVQDĐ – TTT.20 Quy định biểu phí, lãi suất, số lượng thẻ và hạn mức giao dịch đối với thẻ do A phát hành, có hiệu lực kể từ ngày 01/10/2020 và ngày 14/07/2023. Trong đó, mục 6 phụ lục 3 biểu phí, lãi suất thẻ tín dụng Visa Gold do chị Nguyễn Thị M sử dụng thời điểm trước ngày 14/07/2023: Lãi suất trong hạn là 32%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn – 48%/năm.

Tạm tính đến ngày 22/7/2024, chị Nguyễn Thị M còn nợ Ngân hàng A các khoản sau:

  • Vốn gốc: 55.544.026 đồng;
  • Lãi quá hạn: 68.182.609 đồng;

Tổng cộng: 123.726.638 đồng.

Ngân hàng A kính đề nghị Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xem xét và phán quyết buộc:

  1. Chị Nguyễn Thị M trả ngay cho Ngân hàng A tổng dư nợ còn thiếu tạm tính đến ngày 22/7/2024 là: 123.726.638 đồng, trong đó:
    • Vốn gốc: 55.544.026 đồng;
    • Lãi quá hạn: 68.182.609 đồng;
  2. Chị Nguyễn Thị M còn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quá hạn do các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng A đã ký kể từ ngày 23/7/2024 đến ngày trả dứt nợ.

Trong suốt quá trình tố tụng, Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần đối với bị đơn Chị Nguyễn Thị M, nhưng Chị Nguyễn Thị M đều vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á.

Tại phiên tòa hôm nay,

  • Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
  • Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa quá trình giải quyết vụ án cơ bản đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn quá trình tham gia tố tụng đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định của pháp luật, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về yêu cầu trả nợ gốc, lãi theo các Hợp đồng thẻ tín dụng đã ký kết và bị đơn phải tiếp tục chịu khoản lãi phát sinh kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm; bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á khởi kiện chị Nguyễn Thị M, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kèm điều khoản nên xác định tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: bị đơn chị Nguyễn Thị M có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại P1106 nhà N2D Đô thị T1 - N, phường N, quận T, thành phố Hà Nội nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

[2] Về tố tụng: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về yêu cầu khởi kiện:

[3.1] Về nợ gốc: căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ký ngày 26/3/2020 kèm Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A, thì giữa chủ thẻ là chị Nguyễn Thị M và bên phát hành thẻ là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á có thỏa thuận việc cấp và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế với hạn mức thẻ là 50.000.000 đồng và hiệu lực thẻ là 36 tháng. Việc thỏa thuận của các đương sự phù hợp với các quy định của pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, chị Nguyễn Thị M đã thanh toán cho Ngân hàng S số tiền 77 đồng. Do đó, ngày 10/7/2021, Ngân hàng đã chuyển khoản thẻ sang nợ quá hạn đồng thời chấm dứt việc sử dụng thẻ và thu hồi toàn bộ nợ thẻ chưa thanh toán của chị M. Ngày 23/2/2023 Ngân hàng A đã có Thông báo chuyển nợ quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ đối với chị Nguyễn Thị M. Xét thấy, việc chị M vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng A đã được Ngân hàng thông báo đã vi phạm các điều khoản, thỏa thuận đã ký kết. Do đó Ngân hàng A khởi kiện chị M là có cơ sở nên căn cứ Điều 280 và khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3.2] Về nợ lãi quá hạn và yêu cầu trả lãi suất phát sinh kể từ sau ngày xét xử: Điều 10 của Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng TMCP Á quy định áp dụng mức lãi suất quá hạn khi chuyển toàn bộ số dư nợ sang nợ quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, lãi suất trong hạn theo lãi suất do Ngân hàng quy định phù hợp với quy định của pháp luật từng thời điểm. Đối chiếu cách tính trình bày trong bản tự khai và bản sao kê tính lãi mà Ngân hàng cung cấp thấy mức lãi suất Ngân hàng tính và yêu cầu Chị Nguyễn Thị M phải trả là phù hợp với các thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng ký kết giữa hai bên, phù hợp với các quy định của mà Bộ luật Dân sự về lãi suất nên có cơ sở để chấp nhận. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lãi suất phát sinh trong quá trình trả nợ được tính tiếp theo từ ngày 23/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Xét yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với thỏa thuận theo Hợp đồng đã ký kết, phù hợp với Điều 91 của Luật tổ chức tín dụng nên có cơ sở để chấp nhận.

[4] Về án phí: yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên trả lại nguyên đơn toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp, đồng thời buộc bị đơn là chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 280, Điều 463, khoản 1 Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015;
  • Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
  • Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/ 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á.

Buộc chị Nguyễn Thị M phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á số tiền tạm tính đến ngày 22/7/2024 là: 123.726.638 đồng (một trăm hai mươi ba triệu, bảy trăm hai mươi sáu nghìn, sáu trăm ba mươi tám đồng) trong đó: số tiền nợ gốc là: 55.544.029 đồng, số tiền nợ lãi quá hạn là: 68.182.609 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 23/7/2024), chị Nguyễn Thị M còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng TMCP Á đã ký kết cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

2. Về án phí:

- Chị Nguyễn Thị M phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là: 6.186.332₫ (sáu triệu, một trăm tám mươi sáu nghìn, ba trăm ba mươi hai nghìn đồng).

- Trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 2.270.000đ (hai triệu, hai trăm bảy mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0012541 ngày 24/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân.

3. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Thanh Xuân;
  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - Chi cục THADS quận Thanh Xuân, TP. Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Thị Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/DS - ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 69/2024/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng A và bà Nguyễn Thị M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger