TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản số: 69/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 21/8/2024
V/v Không công nhận quan hệ vợ chồng
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên
- Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Nguyễn Thị Thúy Mai
- 2. Bà Nguyễn Thị Mai Hoa
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Quỳnh Chi - Thư ký Tòa án
nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên: Bà Thái Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại hội trường, Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 267/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc không công nhận vợ chồng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QÐSTHNGĐ, ngày 18 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đặng Thị H, sinh năm 1975
Nơi cư trú: Xóm T, xã L, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên
Bị đơn: Anh Mạc Văn P, sinh năm 1974
Nơi cư trú: Xóm T, xã L,TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
( Có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn tại phiên tòa)
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự trình bày như sau:
Nguyên đơn chị Đặng Thị H trình bày: Tháng 11/1993 âm lịch chị và anh Mạc Văn P cưới nhau theo phong tục tập quán trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và hai bên gia đình đồng ý nhưng do không hiểu biết nên không thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi cưới sống với nhau hạnh phúc hòa thuận có hai con chung nhưng từ năm 2000 hai vợ chồng có mâu thuẫn do anh P có người phụ nữ khác, đến năm 2014 cuộc sống hai vợ chồng căng thẳng đỉnh điểm, thường xuyên cãi nhau có lúc còn xảy ra xô xát, đến nay vợ chồng không có tiếng nói chung, từ tháng 8/2022 ly thân mỗi người một nơi nên đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận chị và anh Mạc Văn P là vợ chồng.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Mạc Văn Q, sinh ngày 8/5/1994 và cháu Mạc Văn C, sinh ngày 6/01/1998, các con đều trưởng thành không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án và đến nhà anh P làm việc, lấy lời khai nhưng anh P không hợp tác, từ chối làm việc và không nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, không có văn bản nêu ý kiến với yêu cầu khởi kiện của chị H.
Tại phiên tòa chị H xác nhận chị và anh Mạc Văn P cưới nhau năm 1993 do không hiểu pháp luật nên không đăng ký kết hôn tại UBND xã, nay chị xác định không còn tình cảm với anh P, chị yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị với anh Mạc Văn P. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định; Bị đơn vắng mặt và đã được tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai, nên căn cứ khoản 2 Điều 227, xét xử vắng mặt bị đơn tại phiên tòa.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271 và 273 BLTTDS năm 2015; Điều 14 và 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Đặng Thị H và anh Mạc Văn P là vợ chồng;
- Về con chung: Đã trên 18 tuổi, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Không giải quyết do không yêu cầu.
- Về án phí: Chị Đặng Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Theo nội dung đơn khởi kiện của chị Đặng Thị H đề nghị không công nhận vợ chồng với anh Mạc Văn P, sinh năm 1974, cư trú tại xóm T, xã L, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Đây là vụ án về tranh chấp “Không công nhận quan hệ vợ chồng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Tại phiên tòa anh Mạc Văn P vắng mặt, đây là phiên tòa lần thứ hai, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Mạc Văn P theo đúng quy định. Do đó áp dụng khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
[2]. Về nội dung: Chị Đặng Thị H và anh Mạc Văn P chung sống với nhau từ năm 1993, hôn lễ được tổ chức theo nghi lễ phong tục tập quán địa phương, chị H thừa nhận vợ chồng không đăng ký kết hôn tại UBND xã L, thành phố T. Sau khi cưới sống với nhau hạnh phúc hòa thuận có hai con chung nhưng từ năm 2000 vợ chồng có mâu thuẫn, đỉnh điểm vào năm 2014 cuộc sống hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau có lúc còn xảy ra xô xát, vợ chồng không có tiếng nói chung nên ly thân từ tháng 8/2022 đến nay, chị H xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh P nên xin ly hôn. Tuy nhiên, do anh chị không có đăng ký kết hôn nên chị H yêu cầu không công nhận chị và anh P là vợ chồng.
Tòa án đã tiến hành làm việc với trưởng xóm Thông N và UBND xã L, thành phố T nơi chị H và anh P cư trú, UBND xã L xác nhận sổ đăng ký kết hôn thời kỳ năm 1993 không còn lưu trữ, chỉ còn sổ đăng ký kết hôn từ năm 2000 trở lại đây, qua kiểm tra sổ đăng ký kết hôn còn lưu trữ cho đến nay không có tên chị Đặng Thị H và anh Mạc Văn P. Do đó không có căn cứ để chứng minh việc kết hôn giữa chị H và anh P được đăng ký và do cơ quan có thẩm quyền thực hiện theo quy định pháp luật.
Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Chị Đặng Thị H và anh Mạc Văn P chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1993 chị Đặng Thị H và anh Mạc Văn P từ khi kết hôn cho đến nay không có đăng ký kết hôn theo quy định nên đã vi phạm Luật hôn nhân và gia đình. Như vậy hôn nhân giữa Đặng Thị H và anh Mạc Văn P không được pháp luật thừa nhận. Hội đồng xét xử xét thấy thực tế về quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh P từ khi chung sống cùng nhau sống hạnh phúc nhưng từ năm 2000 hai vợ chồng có mâu thuẫn, đến năm 2014 thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung, ly thân mỗi người một nơi từ tháng 8/2022 đến nay, bản thân chị H xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh P. Tại phiên tòa chị H đề nghị Tòa án tuyên bố không công nhận vợ chồng giữa chị và anh P. Căn cứ vào khoản 1 điều 14, khoản 2 điều 53 Luật hôn nhân và gia đình cần tuyên bố không công nhận vợ chồng giữa chị Đặng Thị H và anh Mạc Văn P.
[3]. Về con chung: Chị H xác nhận con chung đã trưởng thành, chị không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết nên HĐXX không giải quyết.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H yêu cầu được tự thỏa thuận không giải quyết trong vụ án này, anh P quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa vắng mặt nên không có ý kiến trình bày đề nghị gì. Do đó Hội đồng xét xử không giải quyết về tài sản chung trong vụ án này. Khi các đương sự có yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung thì khởi kiện bằng vụ án khác.
[5]. Về án phí: Chị Đặng Thị H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6].Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Khoản 1 điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình; Khoản 8 điều 28, 147, điều 271 và điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Tuyên xử:
- Về Quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Đặng Thị H và anh Mạc Văn P là vợ chồng.
- Về con chung: Đã trưởng thành nên không giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) án Hôn nhân gia đình sơ thẩm nộp vào Ngân sách nhà nước, được trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002815 ngày 13/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
- Về quyền kháng cáo: Chị H có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh P vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Duyên |
Bản án số 69/2024/HNGĐ - ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 69/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
