TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 69 / 2025 / HS-ST Ngày 15 tháng 12 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lư Thị Châu Ngọc.
Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Sơn Hùng và ông Nguyễn Ngọc Bờ.
Thư ký phiên tòa: Ông Trương Trọng Tín, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân vực 13 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cheo, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2025/HSST-QĐ ngày 26 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Đình S, sinh ngày 10/01/1981; nơi cư trú: Xóm T, xã T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình L và bà Nguyễn Thị K; bị cáo có vợ là Bùi Thị N và 03 người con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2020.
- - Tiền án: Ngày 21/12/2022, bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 04 năm, về tội “Đánh bạc”. Chưa chấp hành xong hình phạt.
- - Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/7/2025 đến ngày 12/11/2025 (có mặt).
- - Bị hại: Ông Đỗ Văn Q, sinh năm 1983; nơi cư trú: khóm M, phường V, tỉnh An Giang (chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Đỗ Thị Đ, sinh năm 1983; nơi cư trú: khóm M, phường V, tỉnh An Giang (có mặt).
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Lê Thị Đ1, sinh năm 1959; nơi cư trú: khóm M, phường V, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- + Ông Đỗ Phước S1, sinh năm 2004; nơi cư trú: khóm M, phường V, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- + Bà Đỗ Thị Ngọc G, sinh năm 2007; nơi cư trú: khóm M, phường V, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Đ1, ông S1 và bà G: Bà Đỗ Thị Đ, sinh năm 1983; nơi cư trú: khóm M, phường V, tỉnh An Giang (có mặt).
- + Ông Trần Hoàng P, sinh năm 1995; nơi cư trú: tổ C, khóm T, phường M, tỉnh An Giang (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- - Người làm chứng: Ông Đỗ Văn N1, ông Phạm Văn T (đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 29/05/2025, Trần Đình Song sinh năm 1981, nơi cư trú: Xóm T, xã T, tỉnh Nghệ An điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 37F-007.37 kéo theo sơmi rơ-moóc biển số 37R-049.78 lưu thông trên Quốc lộ I theo hướng từ xã K đến phường C, tỉnh An Giang, khi đến đoạn giữa cầu C thuộc tổ I, khóm B, phường C, tỉnh An Giang do không chú ý quan sát nên đã đụng vào xe mô tô biển số 67D1-440.50 do Đỗ Văn Q đang điều khiển phía trước cùng chiều gây tai nạn. Hậu quả làm Q tử vong tại hiện trường. Sau khi sự việc xảy ra, S đã hỗ trợ, bồi thường cho gia đình bị hại Q số tiền 200.000.000 đồng. Ngày 14/7/2025, S bị khởi tố điều tra.
* Căn cứ Kết luận giám định tử thi số 795/KL-KTHS, ngày 31/5/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, kết luận nguyên nhân chết của Đỗ Văn Q, sinh năm 1983:
1. Các kết quả chính:
- - Vết thương phức tạp trán phải – mắt phải, bờ mép nham nhở, lộ hương hộp vỡ sọ.
- - Vỡ toác xương hộp sọ vùng trán – đỉnh.
- - Rách màng cứng.
- - Phòi mất mô não.
2. Kết luận: Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não nặng. (Bút lục số: 94, 95)
* Căn cứ Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 29/05/2025, của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A, ghi nhận:
- - Hiện trường xảy ra trên đường Quốc lộ 91C (đoạn giữa trên cầu C. Lý trình Km2+551), bên lề đường bên phải hướng A đi C thuộc tổ I, khóm B, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. Mặt đường cầu được pê tông nhựa bằng phẳng rộng 9,05 mét, có vạch sơn màu vàng đôi liên tục ở giữa đường phân chia 02 chiều đường, hai bên thành cầu có lối đi mỗi bên rộng 1,45 mét dành cho người đi bộ. Từ tim vạch sơn vàng giữa tim đường cách mép đường bên phải hướng A đi C là 4,58 mét.
- - Vị trí số (01) là vết cày 1; Vị trí số (02) là vết cày 2; Vị trí số (03) là vết ma sát; Vị trí số (04) là xe mô tô 6701-440.50; Vị trí số (05) là nạn nhân; Vị trí số (06) là mảnh vỡ; Vị trí số (07) là xe ô tô đầu kéo biển số 37F-007.37 kéo theo Sơmi rơ-moóc biển số 37R-049.78. Xác định điểm mốc cố định là trụ điện bê tông số T2DU/B2 và (cột đèn đường bằng sắt số 29 nằm trên cầu) phía bên phải lề đường theo hướng A đi C làm chuẩn. Chọn mép đường bên phải hướng A đi C làm mép đường chuẩn.
- - Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết.
- + Vị trí số 1: Là vết cày thẳng liên tục dài 2,5 mét hướng A đi C. Đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 1,13 mét; Đ2 vết cày cách mép đường chuẩn là 66 cm. Đầu vết cày 1 cách trục trước xe mô tô 67D1-440.50 là 04 mét, cách trục sau là 4,48 mét, cách gác chân bên trái xe mô tô 67D1-440.50 là 4,28 mét, cách đầu vết cày 2 hướng C là 2,2 mét.
- + Vị trí số 2: Là vết cày thẳng liên tục dài 25cm hướng A đi C. Đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 1,4 mét; Đ2 vết cày cách mép đường chuẩn là 1,33 mét. Đuôi vết cày cách vị trí số 3 hướng vào mép đường chuẩn là 1,8 mét.
- + Vị trí số 3: Là vị trí vết ma sát kích thước (30 x 35)cm trên mặt ngoài bê tông của mép đường chuẩn, cách trục trước xe mô tô 6701-440.50 hướng ra ngoài đường là 40cm.
- + Vị trí số 4: Là vị trí xe mô tô 67D1-440.50, ngã bên trái, đầu xe hướng vào mép đường chuẩn, đuôi xe hướng về lề trái. Trục trước xe mô tô 6701-440.50 cách mép đường chuẩn là 45cm, trục sau xe mô tô 6701-440.50 cách mép đường chuẩn là 1,56 mét; Gác chân trước bên trái xe mô tô 67D1-440.50 cách mép đường chuẩn là 1,05 mét. Trục sau xe mô tô 67D1-440.50 cách vị trí số 5 hướng C là 1,5 mét.
- + Vị trí số 5: Là nạn nhân ngã nằm sắp mặt, tay phải hướng lên, tay trái xuôi theo thân người, hai chân nằm song song phía dưới xe mô tô 67D1-440.50; T1 đầu nạn nhân cách mép đường chuẩn là 1,85 mét và cách vị trí số 6 hướng C là 3,7 mét.
- + Vị trí số 6: Là vị trí mảnh vỡ mũ (nhựa) của nón bảo hiểm rộng (3,5 x 2,75) mét; T1 mảnh vỡ cách mép đường chuẩn là 2,3 mét và cách trục sau bên phải xe ô tô đầu kéo biển số 37F-007.37 kéo theo Sơmi rơ-moóc biển số 37R-049.78 hướng C là 200,2 mét.
- + Vị trí số 7: Là vị trí đỗ xe ô tô đầu kéo biển số 37F-007.37 kéo theo Sơmi rơ-moóc biển số 37R-049.78, đầu xe hướng C, đuôi xe hướng A. Trục trước bên phải cách mép đường chuẩn là 0,13 mét, trục sau cùng bên phải cách mép đường chuẩn là 0,57 mét.
* Căn cứ Biên bản về việc kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở ngày 29/5/2025 của Phòng C - Công an tỉnh A, đối với Trần Đình S, kết quả kiểm tra: Nồng độ cồn trong hơi thở là 0,00 mg/l khí thở. (Bút lục số: 02-03)
* Căn cứ Phiếu xét nghiệm ma túy ngày 29/5/2025 của Trung tâm Y tế thành phố C đối với: Trần Đình S kết quả: âm tính với Methamphetamine. (Bút lục số: 04-05)
* Lời khai người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng:
- - Đỗ Thị Đ, Lê Thị Đ1, Đỗ Phước S1, Đỗ Thị Ngọc G (vợ, mẹ và con bị hại Q) cùng trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu. Qua sự việc, Đ1, S1, G ủy quyền cho Đ làm người đại diện hợp pháp cho Q. Hiện, Đ đã nhận số tiền 200.000.000 đồng do bị can Song bồi thường không yêu cầu bồi thường thêm, xin xem xét miễn trách nhiệm hình sự cho bị can S. (Bút lục số 169a – 177).
- - Đỗ Văn N1, Phạm Văn T cùng trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu. (Bút lục số 167 – 169).
- - Trần Hoàng P được Công ty B ủy quyền tham gia giải quyết trách nhiệm dân sự trong vụ tai nạn giao thông trình bày: Trần Đình S có mua bảo hiểm của Công ty P1 với nội dung là Bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe: đối với thiệt hại về người thì bảo hiểm bồi thường 150.000.000 đồng/người/vụ. (Bút lục số 182).
Quá trình điều tra, bị can Trần Đình S khai báo thành khẩn, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp nội dung vụ án; phù hợp với lời khai người đại diện hợp pháp cho bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; kết luận giám định; các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua sự việc bị can S đã bồi thường cho gia đình bị hại Đỗ Văn Q số tiền 200.000.000 đồng. (Bút lục số: 117 – 127, 134 - 136).
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A thu giữ:
- - 01 Xe ô tô tải đầu kéo biển kiểm soát 37F-007.37, nhãn hiệu CNHTC, số loại ZZ4257V324HE1B, số máy: MC114450230917209027, số khung: LZZ1CLVC1PD164795 và 01 xe sơmi rơmoóc biển kiểm soát 37R-049.78, nhãn hiệu CIMC, số loại ZJV9402TJZ01, số khung LJRC1538XNT003947, đã qua sử dụng (đã trả lại cho Trần Đình S theo biên bản giao nhận ngày 05/8/2025).
- - 01 xe mô tô loại SIRIUS, màu đen đỏ, biển số 67D1 – 440.50, số máy: 1FC3151917, số khung: FC30FY151909, xe bị hư hỏng do tai nạn giao thông, đã qua sử dụng (đã trả lại cho Đỗ Thị Đ theo biên bản giao nhận ngày 06/8/2025). (Bút lục số: 06, 07, 12, 13).
* Về trách nhiệm dân sự, biện pháp tư pháp: Đại diện hợp pháp cho gia đình bị hại đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu gì thêm, nên không đề cập đến.
Tại Cáo trạng số 05/CT-VKSKV13 ngày 04/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – An Giang đã truy tố bị cáo Trần Đình S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (sau đây viết tắt là Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa,
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – An Giang phát biểu luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Cáo trạng đã nêu. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Đình S từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Căn cứ vào bản án số 190/2022/HSST, ngày 21/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xử phạt bị cáo Trần Đình S 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Đến thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ngày 29/5/2025 thì bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách. Vì vậy cần áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung của hai bản án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- + Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Trần Đình S đã khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại ông Đỗ Văn Q số tiền là 230.000.000 đồng, đại diện gia đình ông Q đã nhận đủ và không yêu cầu gì khác nên đề nghị không xem xét, giải quyết.
- + Về án phí sơ thẩm: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- + Về xử lý vật chứng: Đề nghị không xem xét.
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo xin lỗi gia đình bị hại, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại, bà Đỗ Thị Đ trình bày như nội dung vụ án, không có yêu cầu gì khác về trách nhiệm dân sự và có đơn xin bãi nãi và miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
- Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Lê Thị Đ1, ông Đỗ Phước S1 và bà Đỗ Thị Ngọc G là bà Lê Thị Đ3 trình bày như nội dung vụ án, không có yêu cầu gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
[1] Đối với hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Trần Hoàng P vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; người làm chứng là ông Đỗ Văn N1, ông Phạm Văn T vắng mặt mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về nội dung:
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố về thời gian, địa điểm và diễn biến về hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Ngoài ra, lời khai nhận của bị cáo còn phù hợp với lời khai đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra và được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 11 giờ ngày 29/05/2025, Trần Đình S điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 37F-007.37 kéo theo sơmi rơ-moóc biển số 37R-049.78 lưu thông trên Quốc lộ I theo hướng từ xã K đến phường C, tỉnh An Giang. Khi đến đoạn giữa cầu C thuộc tổ I, khóm B, phường C, tỉnh An Giang do không chú ý quan sát nên đã đụng vào xe mô tô biển số 67D1-440.50 do Đỗ Văn Q đang điều khiển phía trước cùng chiều gây tai nạn. Hậu quả làm Q tử vong tại hiện trường.
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Trần Đình S đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo Trần Đình S là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ khi điều khiển xe ô tô tải đầu kéo kéo theo sơmi rơ-moóc là phương tiện có tải trọng lớn, tầm nhìn hạn chế, yêu cầu người điều khiển phải đặc biệt cẩn trọng khi tham gia giao thông. Tuy nhiên, bị cáo không chú ý quan sát, dẫn đến va chạm với xe mô tô do ông Đỗ Văn Q điều khiển cùng chiều, hậu quả của hành vi này là ông Quý tử V tại hiện trường.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội; thuộc thành phần nhân dân lao động. Sau khi gây tai nạn làm cho bị hại chết, bị cáo đến thăm hỏi gia đình bị hại và đã khắc phục hậu quả với số tiền 200.000.000 đồng. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã thực hiện gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người tham gia giao thông khác. Do đó, cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tổng hợp hình phạt: Tại Bản án số 190/2022/HSST ngày 29/12/2022, bị cáo Trần Đình S bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội Đánh bạc theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, trong thời gian thử thách, bị cáo tiếp tục phạm tội mới, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng là làm một người tử vong. Vì vậy cần áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung của hai bản án.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy, bị cáo là lao động chính trong gia đình nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Xét thấy, sau khi vụ tai nạn xảy ra, bị cáo đã nhiều lần đến thăm hỏi, động viên và tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000đ. Đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- - 01 (một) xe ô tô tải đầu kéo biển kiểm soát 37F-007.37, nhãn hiệu CNHTC, số loại ZZ4257V324HE1B, số máy: MC114450230917209027, số khung: LZZ1CLVC1PD164795 và 01 xe sơmi rơmoóc biển kiểm soát 37R-049.78, nhãn hiệu CIMC, số loại ZJV9402TJZ01, số khung LJRC1538XNT003947, đã qua sử dụng, sau khi khám nghiệm Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an phường C, tỉnh An Giang đã trả lại cho chủ sở hữu Trần Đình S là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- - 01 xe mô tô loại SIRIUS, màu đen đỏ, biển số 67D1 – 440.50, số máy: 1FC3151917, số khung: FC30FY151909, xe bị hư hỏng do tai nạn giao thông, đã qua sử dụng, sau khi khám nghiệm Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an phường C, tỉnh An Giang đã trả lại cho chủ sở hữu Trần Đình S là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần Đình S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025;
Xử phạt bị cáo Trần Đình S: 01 (một) năm tù. Tổng hợp hình phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù của bản án số 190/2022/HSST ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An về tội “Đánh bạc” buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Không xem xét.
- Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Trần Đình S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15 tháng 12 năm 2025), bị cáo Trần Đình S, người đại diện hợp pháp của bị hại bà Đỗ Thị Đ, người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Lê Thị Đ1, ông Đỗ Phước S1 và bà Đỗ Thị Ngọc G là bà Đỗ Thị Đ có quyền kháng cáo bản án yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lư Thị Châu Ngọc |
Bản án số 69/2025/HS-ST ngày 15/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - AN GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 69/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án xét xử về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
