|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 69/2025/HS-ST Ngày: 03-4-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lương Việt Bằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đinh Khắc Tiệp
Bà Trần Thị Nhung
- Thư ký phiên toà: Ông Lã Ngọc Tiền - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2025/TLST-HS ngày 26-02-2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST-HS ngày 20-3-2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Đình S, sinh ngày 24 tháng 11 năm 1969 tại tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: 03606900xxxx; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Số 2/32/418 đường Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đình M và bà Đinh Thị T; gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; có vợ là Lê Anh Đ và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13-10-2024, chuyển tạm giam ngày 22-10-2024, hiện bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố N, tỉnh Nam Định có mặt.
* Người chứng kiến: Ông Lê Thanh S, sinh năm 1985 và ông Đặng Văn H, sinh năm 1984 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 13-10-2024, tổ công tác Công an phường H, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực đường vào tổ 16 H, phường L, thành phố N phát hiện Hoàng Đình S đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18B1-499.xx có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, phát hiện thu giữ trong túi áo bên trái S đang mặc 01 mảnh giấy màu trắng bên trong có 01 đoạn ống thủy tinh dài khoảng 12cm (có 01 đầu hình cầu) và 01 túi nilong màu trắng kích thước khoảng (1,5x2) cm, mở kiểm tra túi nilong bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (S khai là ma túy “đá” mua về để sử dụng). Tổ công tác cùng S và 02 người chứng kiến quá trình bắt giữ S tiến hành niêm phong vật chứng, sau đó đưa S và mời người chứng kiến về trụ sở Công an phường L, thành phố N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hoàng Đình S. Ngoài ra còn tạm giữ của S 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda BLADE biển kiểm soát 18B1-499.xx, 01 chiếc điện thoại di động OPPO màu trắng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với vật chứng đã thu giữ của Hoàng Đình S. Bản kết luận giám định số 1735/KL-KTHS ngày 16-10-2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi nilong màu trắng kích thước khoảng (1,5x2) cm, được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu: 0,232 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Đình S khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 13-10-2024, S sử dụng số sim 0948.028.212 lắp trong điện thoại di động OPPO màu trắng gọi điện cho một người đàn ông, S chỉ nhớ số đuôi điện thoại là 6647 (do bạn bè xã hội giới thiệu nên S chỉ biết số điện thoại nhưng không rõ tên, tuổi, địa chỉ) hỏi mua 300.000 đồng ma túy và xin thêm 01 chiếc cóng (dạng ống thủy tinh) để sử dụng ma túy. Người đàn ông đồng ý và bảo S đến vị trí nghĩa trang Cánh Phượng, phường L cách khoảng 500m có cột điện lấy ma túy đựng trong gói nilong màu trắng cùng 01 ống cóng thủy tinh và bảo S để 300.000 đồng ở vị trí đó người đàn ông sẽ lấy sau. S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18B1-499.79 đi đến vị trí người đàn ông chỉ dẫn, lấy gói ma túy và ống cóng thủy tinh, mở kiểm tra rồi cất vào túi áo bên trái đang mặc, để tiền ở đó rồi điều khiển xe để đi tìm nơi sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Cơ quan điều tra đã xác minh chủ thuê bao điện thoại số 0915.606.xxx mà S khai liên hệ để mua ma túy là của chị Mai Thị Y, sinh năm 1982, cư trú tại thôn P, xã V, huyện T, tỉnh Thái Bình. Chị Y khai chưa từng đăng ký và sử dụng số thuê bao trên cũng không làm mất hoặc cho ai mượn căn cước công dân để đăng ký số điện thoại trên nên không có căn cứ xử lý đối với chị Y.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Hoàng Đình S, do không xác minh được thông tin, lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N không có căn cứ xử lý.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda BLADE biển kiểm soát 18B1-499.79 là tài sản của bà Lê Anh Đ (vợ S), bà Đ không biết S mượn xe đi mua ma túy nên Cơ quan điều trả đã trả lại chiếc xe này cho bà Đ.
Bản cáo trạng số 54/CT-VKS-TPNĐ ngày 24-02-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định truy tố Hoàng Đình S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Hoàng Đình S thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và thừa nhận biết rõ hành vi cất giữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do nghiện ma túy nên đã tàng trữ với mục đích sử dụng cho bản thân. Bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới và ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Hoàng Đình S theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã công bố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 1735/KL-KTHS ngày 16-10-2024, 01 đoạn ống thủy tinh dài khoảng 12cm (một đầu hình cầu), 01 mảnh giấy màu trắng;
- + Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với chiếc điện thoại di động OPPO màu trắng, bị cáo sử dụng để liên hệ mua ma túy.
- - Bị cáo Hoàng Đình S phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Hoàng Đình S không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo Hoàng Đình S nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Đình S không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ vật chứng; biên bản mở niêm phong, giao nhận và cân khối lượng mẫu vật; biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại mẫu vật; bản kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; lời khai của những người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ nên đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 13-10-2024, tại khu vực đường vào tổ 16 H, phường L, thành phố N, Hoàng Đình S đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,232 gam loại ma túy Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[3.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt: Bị cáo Hoàng Đình S phạm tội nghiêm trọng nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo khỏi xã hội nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng, tài sản, đồ vật:
Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy trong phong bì niêm phong số 1735/KL-KTHS ngày 16-10-2024, 01 đoạn ống thủy tinh dài khoảng 12cm (một đầu hình cầu), 01 mảnh giấy màu trắng.
Tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động OPPO màu trắng, bị cáo sử dụng để liên hệ mua ma túy.
[7] Về án phí: Bị cáo Hoàng Đình S bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Hoàng Đình S 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13 tháng 10 năm 2024.
- Xử lý vật chứng, tài sản, đồ vật: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy trong phong bì niêm phong số 1735/KL-KTHS ngày 16-10-2024, 01 đoạn ống thủy tinh dài khoảng 12cm (một đầu hình cầu), 01 mảnh giấy màu trắng.
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động OPPO màu trắng được niêm phong trong túi mã số NS3 2155642.
(Tất cả vật chứng, tài sản, đồ vật có đặc điểm như quyết định chuyển vật chứng số 54/QĐ-VKS-TPNĐ ngày 24-02-2025 của VKSND thành phố N và biên bản giao nhận vật chứng, tài sản tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N, tỉnh Nam Định).
- Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Bị cáo Hoàng Đình S phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Hoàng Đình S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Hoàng Đình S có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Việt Bằng |
Bản án số 69/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 69/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
