Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG TÈ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2025/HSST

Ngày: 03/04/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, ông: Lò Xuân Hải.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông: Lù Thanh Xá.

Bà: Vàng Thị Thu.

- Thư ký phiên tòa, ông: Nguyễn Minh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa, ông: Nguyễn Kiến Thắng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 04 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh L, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2025/TL-ST-HS, ngày 27 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2025/QĐXXST-HS, ngày 21 tháng 03 năm 2025, đối với bị cáo.

- Pờ Ha X: Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày 28/02/1993; tại: Xã P, huyện M, tỉnh L; nơi thường trú: Bản C, xã P, huyện M, tỉnh L; nơi ở hiện tại: Bản C, xã P, huyện M, tỉnh L; thẻ CCCD: 0012093007315; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: La Hủ; tôn giáo: Không; đảng, đoàn: Không; con ông Pờ Gạ C ( đã chết) và con bà Vàng Xạ L, sinh năm 1965; vợ Ly Lò N, sinh năm 1998; con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân chưa bị xử lý; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại phân trại M thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh L - Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Pờ Ha X, bà: Nông Thị Minh H - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ ngày 20/11/2024, Pờ Ha X đang ở lán hoang tại khu vực bản T, xã M, huyện M, tỉnh L, thì gặp một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch và mua được từ người đàn ông này 01 gói Heroine được bọc bên ngoài bằng mảnh nilon màu xanh với giá 400.000 đồng nhằm mục đích sử dụng, sau đó X sử dụng một ít bằng cách hít, phần Heroine còn lại X gói lại và nhặt 01 mảnh nilon màu trắng gói bên ngoài rồi cất vào vỏ gói mì tôm Kokomi màu đỏ. Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 21/11/2024, khi X đang chuẩn bị sử dụng Heroine, thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng M phát hiện, bắt quả tang, tiến hành lập biên bản thu giữ vật chứng 01 vở gói mì tôm Kokomi, bên trong có ít thuốc lào chưa sử dụng, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 gói nilon màu trắng bên trong có một gói nilon màu xanh chứa chất bột khô, màu trắng, theo quy định của pháp luật.

Tại kết luận giám định số: 126/KLGĐ-CA, ngày 21/11/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc Công an huyện M, kết luận: Mẫu chất bột khô, màu trắng thu giữ của Pờ Ha X có tổng khối lượng là 1,1 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 1206/GĐ-KTHS ngày 22/11/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh L, kết luận: Mẫu chất bột khô, màu trắng, gửi giám định là ma túy, loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số: 22/CT-VKS-MT ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố Pờ Ha X về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý:

  • - Trách nhiệm hình sự: Đối với Pờ Ha X về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
  • - Về hình phạt chính: Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Pờ Ha X, từ: 01 năm 04 tháng đến 01 năm 10 tháng tù, về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, do điều kiện kinh tế của bị cáo.
  • - Về vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu xanh; 01 vở gói mì tôm Kokomi, bên trong có ít thuốc lào chưa sử dụng, 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh kim loại màu trắng và 0,84 gam Heroine còn lại sau giám định.
  • +. Đối với 0,26 gam Heroine đã giử đi giám định, không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập xử lý.
  • - Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích tính chất, hành vi, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo, người bào chữa đồng ý với nội dung cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện M. Về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; xử lý vật chứng; miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo không có ý kiến gì bổ sung, đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa việc bị cáo khai báo là hoàn toàn tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, bị cáo không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Sau khi tranh luận Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên mức hình phạt chính như đã đề nghị. Lời nói sau cùng bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 09 giờ 30 phút ngày 21/11/2024, tại bản T, xã M, huyện M, tỉnh L. Pờ Ha X, đang có hành vi tàng trữ trái phép 1,1 gam Heroine để sử dụng, thì bị Đồn Biên phòng M - Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh L, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội. Bị cáo không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

[2]. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy Hội đồng xét xử xét phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[3]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Pờ Ha X luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần được xem xét áp dụng cho bị cáo. Nhận thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số La Hủ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản C, xã P, huyện M, tỉnh L, là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét áp dụng cho bị cáo.

[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Pờ Ha X không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5]. Về nhân thân: Bị cáo Pờ Ha X có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ không được đi học, lớn lên ở nhà tham gia lao động sản xuất tại địa phương, nhận thức pháp luật hạn chế, là người sử dụng chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ được hành vi tàng trữ chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân nên đã cố ý phạm tội.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 triệu đồng, xét thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số La Hủ, nghề nghiệp trồng trọt, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản C, xã P, huyện M, tỉnh L là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[7]. Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu xanh; 01 vở gói mì tôm Kokomi, bên trong có ít thuốc lào chưa sử dụng, 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh kim loại màu trắng và 0,84 gam Heroine còn lại sau giám định.

+. Đối với 0,26 gam Heroine đã giử đi giám định, không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8]. Về án phí hình sự sơ thẩm, xét thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số La Hủ, nghề nghiệp trồng trọt, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản C, xã P, huyện M, tỉnh L là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật cho bị cáo.

[9]. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử có cơ sở khách quan và căn cứ pháp lý để kết luận: Bị cáo Pờ Ha X đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy ý kiến của Kiểm sát viên và của người bào chữa tại phiên tòa về: Tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; xử lý vật chứng; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có cơ sở đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10]. Đối với người đàn ông lạ mặt đã bán 01 gói Heroine cho bị cáo Pờ Ha X với giá 400.000 đồng. Trong qúa trình điều tra không xác định được lai lịch của người đàn ông này nên không đủ căn cứ để xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

  • - Tuyên bố bị cáo: Pờ Ha X phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • - Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Pờ Ha X: 01 năm 05 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 21/11/2024.
  • Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Không áp dụng đối với bị cáo Pờ Ha X.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu xanh; 01 vở gói mì tôm Kokomi, bên trong có ít thuốc lào chưa sử dụng, 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh kim loại màu trắng và 0,84 gam Heroine còn lại sau giám định.
  • +. Đối với 0,26 gam Heroine đã giử đi giám định, không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Pờ Ha X.
  • - Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh L;
  • - VKSND tỉnh L;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh L;
  • - VKSND huyện M;
  • - Phân trại M thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh L;
  • - Chi cục THADS huyện M;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu hồ sơ VA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Lò Xuân hải

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2025/HSST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 69/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Pờ Ha X phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger