|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2025/HS-ST
Ngày: 20/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG,
TỈNH KHÁNH HÒA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Lý
- Bà Lê Nguyễn Thái Minh
Thư ký phiên tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Hà –
Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, Khánh Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên
tòa: Bà Trần Nguyễn Bích Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 44/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2025/HSST-QĐ ngày 04/3/2025 đối với các bị cáo:
- - NGÔ VĂN C (giới tính: Nam) – sinh ngày: 14/10/1993 tại tỉnh Hà Nam. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn B xã Đ, thành phố P, Hà Nam; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Ngô Văn T – sinh năm: 1969 và bà Vũ Thị D – sinh năm: 1971; Bị cáo chưa có vợ, con.
- Tiền án, tiền sự: không
- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/5/2024 tại Phân trại tạm giam khu vực N - Công an tỉnh K.
- - TRỊNH CÔNG TUÂN (giới tính: Nam) – sinh ngày: 21/01/1986 tại tỉnh Thái Bình. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn A xã K, huyện K, Đắk Lắk; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 4/12; Con ông Trịnh Công T1 (chết) và bà Tạ Thị N; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Thanh D1 – sinh năm: 1991, chưa có con.
- Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
- - Bản án số 04/2008/HSPT ngày 08/01/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/7/2013.
- - Bản án số 20/2014/HSST ngày 22/5/2014 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/9/2016.
- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/5/2024 tại Phân trại tạm giam khu vực N - Công an tỉnh K.
Bị hại: Công ty cổ phần Đ
Đại diện theo ủy quyền của Công ty: Ông Lê Việt L - sinh năm: 1990. Địa chỉ: N H, phường P, N, Khánh Hòa. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Văn V - sinh năm 1985. Địa chỉ: A D, phường V, N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Hữu C1 - sinh năm 1970. Địa chỉ: G N, phường V, N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Bà Phan Thị N1 - sinh năm: 1973. Địa chỉ: G N, phường V, N, Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Ông Lê Văn P - sinh năm 1975. Địa chỉ: G tổ B H, phường V, N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài nên Trịnh Công T2 đã rủ Ngô Văn C cùng đi cắt trộm dây điện tại các trạm biến áp để lấy lõi dây đồng bán lấy tiền.
Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 08/5/2024, T2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 79N1-576.40 chở C đến trạm điện T4 thuộc thôn P, xã P, N để trộm cắp tài sản. Quan sát thấy xung quanh không có người, C đứng bên dưới cảnh giới để T2 leo lên trạm điện, dùng kìm cộng lực cắt trộm 10 mét dây đồng loại bọc cách điện CVV.150mm² và 15 mét dây đồng trần M35. Sau khi lấy được tài sản, T2 chở C đến bãi đất trống thuộc thôn P, xã P, N dùng dao rọc giấy cắt vỏ nhựa lấy lõi dây đồng rồi mang đến điểm thu mua phế liệu tại số G N, phường X, N bán được 2.380.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 416/KL-HĐĐGTS ngày 23/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận:
- - 10 mét dây đồng bọc cách điện CVV.150mm² – 0,6/1KV, tại thời điểm định giá (tháng 5/2024) có giá trị 3.351.128 đồng (Ba triệu ba trăm năm mươi mốt nghìn một trăm hai mươi tám).
- - 15 mét dây đồng trần, tại thời điểm định giá (tháng 5/2024) có giá trị 1.083.972 (Một triệu không trăm tám mươi ba nghìn chín trăm bảy mươi hai).
Tổng giá trị tài sản định giá là: 4.435.100 đồng (Bốn triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn một trăm).
Tại cơ quan điều tra, Ngô Văn C và Trịnh Công T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi “Trộm cắp tài sản” của mình như đã nêu trên. Ngoài ra, C còn khai nhận đã thực hiện 02 vụ trộm dây điện trên địa bàn thành phố N:
Vụ 1: Khoảng 04 giờ ngày 13/5/2024, Ngô Văn C một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 79N1-576.40 đi lòng vòng khu vực B, N tìm kiếm trạm điện để cắt dây điện lấy lõi đồng. Khi đến trạm điện T.02D trước Công ty D2 (đường V, phường P, N), quan sát xung quanh không có người nên C leo lên trạm điện dùng kìm mang theo cắt khoảng 09 mét dây đồng loại bọc cách điện CVV.240mm². Sau đó C mang đến công viên B (đường T, phường V, N) dùng dao rọc giấy lột vỏ nhựa để lấy lõi dây đồng mang đi bán cho một người thu mua phế liệu dọc đường với giá hơn 1.000.000 đồng.
Vụ 2: Khoảng 02 giờ ngày 14/5/2024, Ngô Văn C đi cùng bạn tên thường gọi là T3 (chưa xác định nhân thân) đi tìm kiếm trạm điện để cắt dây điện lấy đồng bán lấy tiền tiêu xài. Khi đến trạm biến áp T5.87C (trước số A L, P, N) thì C leo lên trạm biến áp dùng kìm mang theo sẵn cắt dây trung tính của trạm còn T3 đứng dưới cầm dây điện rút ra, cả hai trộm khoảng 08 mét dây đồng loại bọc cách điện CVV.120mm². Sau đó, C và T3 tiếp tục điều khiển xe mô tô đến trạm biến áp T5.36B (trước số B D, V, N). Tại đây, C tiếp tục leo lên trạm biến áp dùng kìm cắt dây trung tính của trạm điện này, T3 cầm dây điện kéo ra khỏi trạm, cả hai lấy trộm được khoảng 08 mét dây đồng loại bọc cách điện CVV.95mm². Sau khi trộm được dây điện, cả hai đi đến bãi đất trống tại khu vực Đ, V, N để bóc vỏ nhựa bên ngoài lấy lõi đồng, T3 mang lõi đồng đi bán và chia cho C 700.000 đồng (Bảy trăm ngàn đồng).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 671 và 672/KL-HĐĐGTS ngày 19/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận:
- -08 mét dây đồng 1 ruột cách điện CVV.120mm² 0,6/1KV, tại thời điểm định giá (tháng 5/2024) có giá trị 2.062.000 đồng (Hai triệu không trăm sáu mươi hai nghìn).
- - 08 mét dây đồng 1 ruột cách điện CVV.95mm² – 0,6/1KV, tại thời điểm định giá (tháng 5/2024) có giá trị 1.663.000 đồng (Một triệu sáu trăm sáu mươi ba nghìn).
Tổng giá trị tài sản mà Ngô Văn C trộm cắp là: 11.382.859 đồng (Mười một triệu ba trăm tám mươi hai nghìn tám trăm năm mươi chín đồng); Giá trị tài sản mà Trịnh Công T2 trộm cắp là: 4.435.100 đồng (Bốn triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn một trăm đồng).
Tại bản cáo trạng số 312/CT-VKSNT-HS ngày 13/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố các bị cáo Trịnh Công T2 và Ngô Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang - tỉnh Khánh Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Ngô Văn C từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/5/2024. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trịnh Công T2 từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/5/2024.
Về trách nhiệm dân sự và án phí: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Xét thấy tại phiên tòa, việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không gây trở ngại cho việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 và 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi tố tụng của những người tiến hành tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật hình sự.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng nêu trên. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố các bị cáo Trịnh Công T2 và Ngô Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét về tính chất, vai trò của vụ án, đây là hành vi trộm cắp tài sản có đồng phạm đơn giản, tuy bị cáo Trịnh Công T2 là người khởi xướng nhưng bị cáo Ngô Văn C là người giúp sức tích cực và trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo C phạm tội 02 lần trở lên thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo T2 có nhân thân xấu về 02 hành vi “Cướp giật tài sản” và “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tài sản mà các bị cáo trộm cắp là tài sản Nhà nước do Công ty cổ phần Đ quản lý.
Các bị cáo là thanh niên có sức khỏe nhưng không sử dụng sức lao động của mình để làm việc chân chính nuôi sống bản thân mà lại trộm cắp tài sản của Nhà nước. Điều này thể hiện các bị cáo coi thường kỷ cương pháp luật nên Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại. Vì vậy, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để bị cáo nhận thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo T2 bồi thường cho Công ty cổ phần Đ số tiền 4.435.100 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo C bồi thường cho Công ty cổ phần Đ số tiền 11.382.859 đồng
Đối với số tiền 20.000.000 đồng mà bị hại là Công ty cổ phần Đ yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thì do Đại diện theo ủy quyền của bị hại vắng mặt nên tách ra để giải quyết bằng vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu.
[5] Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: tiêu hủy 01 kiềm cộng lực, 01 bút thử điện; tịch thu 01 xe mô tô dạng wave màu xanh có biển kiểm soát 79N1-57640.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại Luật phí và Lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Trịnh Công T2 và Ngô Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng:
- - Khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ngô văn C. Xử phạt: Bị cáo C 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/5/2024.
- - Khoản 1 Điều 173, điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trịnh Công T2. Xử phạt: Bị cáo T2 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/5/2024.
- Về trách nhiệm dân sự:
- Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo T2 bồi thường cho Công ty cổ phần Đ số tiền 4.435.100 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo C bồi thường cho Công ty cổ phần Đ số tiền 11.382.859 đồng.
- Đối với số tiền 20.000.000 đồng mà bị hại là Công ty cổ phần Đ yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thì do Đại diện theo ủy quyền của bị hại vắng mặt nên tách ra để giải quyết bằng vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu.
- Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Ngô văn C và bị cáo Trịnh Công T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Nguyễn Vũ L1 |
Bản án số 69/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 69/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CT
