|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 19/3/2025
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Châu Vũ Sơn.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Lâm Sơn;
- Bà Nguyễn Thị Ly.
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 841/2024/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2024 “Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 88/2025/QĐST- HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kỳ D, sinh năm 1999; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: số 100/02/ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Hồ Hữu L là Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A; có mặt.
- Bị đơn: Anh Lăng Tuấn V, sinh năm 1993; địa chỉ: tổ A, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, biên bản hòa giải và tại phiên Tòa nguyên đơn chị Nguyễn Kỳ D trình bày, sau thời gian tự tìm hiểu chị và anh V được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới ngày 25/01/2023 nhưng chị và anh V đăng ký kết hôn vào ngày 20/10/2022 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C tỉnh An Giang. Vợ chồng sống chung đôi lúc cũng hay cãi vã, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn sống không tình cảm, bất đồng quan điểm, không hợp nhau, vợ chồng không còn sống chung từ ngày 19/11/2024 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn, chị yêu cầu ly hôn với anh V.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 01 con chung tên Lăng Kiến V1, sinh ngày 13/11/2023 hiện nay chị đang chăm sóc và nuôi dưỡng cháu, khi ly hôn chị D yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu V1, không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Kỳ D xác định vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị Nguyễn Kỳ D xác định vợ chồng không có.
Tại tờ tự khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, biên bản hòa giải và tại phiên Tòa bị đơn anh Lăng Tuấn V trình bày: Anh cũng thống nhất lời trình bày của chị D về thời gian chung sống và đăng ký kết hôn. Nay chị Nguyễn Kỳ D xin ly hôn thì anh đồng ý.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 01 con chung tên Lăng Kiến V1, sinh ngày 13/11/2023 hiện nay chị D đang chăm sóc và nuôi dưỡng cháu, khi ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu V1, không yêu cầu chị D phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh Lăng Tuấn V xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh Lăng Tuấn V xác định vợ chồng không có.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện: Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu gia đình, giấy chứng nhận kết hôn; Giấy khai sinh của Lăng K (bản sao).
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Ngoài các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án, chị D không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Bị đơn cũng không có ý kiến gì khác và cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn Luật sư Hồ Hữu L trình bày ý kiến:
- - Về hôn nhân: Tại phiên tòa chị Nguyễn Kỳ D và anh Lăng Tuấn V2 đồng ý ly hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị D và anh là phù hợp Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- - Về con chung: Chị Nguyễn Kỳ D, anh Lăng Tuấn V xác định vợ chồng có 01 con chung. Xét thấy, từ khi anh V và chị D ly thân đến nay thì cháu V1 được chị D chăm sóc và nuôi dưỡng cháu vẫn phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Hiện tại cháu V1 chưa đủ tròn 36 tháng tuổi do vậy cần phải có sự chăm sóc của người mẹ là điều quan trọng nhất. Anh Lăng Tuấn V cũng có ý kiến được chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục cháu V1. Nếu phải giao cháu V1 cho anh V được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục cháu V1 thì sẽ làm thay đổi môi trường sống của cháu V1 dẫn đến sức khỏe và tinh thần của cháu V1 không được ổn định và phát triển như bao trẻ khác. Để đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu V1. Đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu V1 cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Tại phiên Tòa chị Nguyễn Kỳ D, anh Lăng Tuấn V xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Ý kiến giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Kỳ D và anh Lăng Tuấn V, quen biết, tự tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận, bảo vệ. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau anh V, không chăm lo gia đình dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi nên chị D yêu cầu ly hôn với anh V. Phía anh V đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị D nên căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình, công nhận thuận tình ly hôn giữa chị D và anh V.
Về con chung: Có 01 con chung tên Lăng Kiến V1, sinh ngày 13/11/2023, đang sống cùng chị D, anh V, chị D đều có yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, việc giao con chưa thành niên cho vợ hay chồng chăm sóc nuôi dưỡng, cần xem xét đến điều kiện phát triển và nguyện vọng của con chung. Hiện nay, cháu V1 chưa đủ 36 tháng tuổi, thời gian vợ chồng ly thân, cháu Văn S cùng chị D được chị D chăm sóc, phát triển tốt về thể chất, tinh thần nên cần tiếp tục giao cháu V1 cho chị D chăm sóc, nuôi dưỡng. Do chị D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập đến.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không đề cập đến.
Căn cứ các Điều 55, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình:
Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Kỳ D đối với anh Lăng Tuấn V.
Chị Nguyễn Kỳ D được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Lăng Kiến V1, sinh ngày 13/11/2023; anh Lăng Tuấn V không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên tòa, và kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Chị Nguyễn Kỳ D khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lăng Tuấn V cư trú ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân:
Chị Nguyễn Kỳ D và anh Lăng Tuấn V tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh V là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, chị D với anh V thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, anh chị không còn sống chung từ cuối năm 2024 cho đến nay. Tại phiên tòa chị D xin ly hôn anh V cũng đồng ý. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ nên công nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn giữa chị D và anh D1 là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Chị Nguyễn Kỳ D, anh Lăng Tuấn V xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 01 con chung tên Lăng Kiến V1, sinh ngày 13/11/2023 hiện nay chị D đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu V1, khi ly hôn chị D yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu V1.
Trong quá trình làm việc thì anh Lăng Tuấn V cũng có ý kiến được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu V1.
Xét thấy, việc giao con chưa thành niên cho vợ hay chồng chăm sóc, nuôi dưỡng, cần xem xét đến điều kiện phát triển và nguyện vọng của con chung. Từ khi ly thân đến nay, cháu V1 được chị D chăm sóc và nuôi dưỡng cháu vẫn phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Mặt khác, hiện tại cháu V1 chưa đủ tròn 36 tháng tuổi do vậy cần phải có sự chăm sóc của người mẹ là điều quan trọng nhất. Anh Lăng Tuấn V cũng có ý kiến được chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục cháu V1. Nếu phải giao cháu V1 cho anh V được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục cháu V1 thì sẽ làm thay đổi môi trường sống của cháu V1 dẫn đến sức khỏe và tinh thần của cháu V1 không được ổn định và phát triển như bao trẻ khác. Để đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu V1. Hội đồng xét xử nghĩ nên tiếp tục giao cháu V1 cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con chung do chị D không yêu cầu anh V ấp dưỡng nuôi con, anh V cũng không có ý kiến, do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Kỳ D, anh Lăng Tuấn V xác định không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Kỳ D phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Anh Lăng Tuấn V không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều:
Điều 55, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Điều 144, 147, 235, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kỳ D.
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Kỳ D và anh Lăng Tuấn V thuận tình ly hôn.
-
Về con chung: Chị Nguyễn Kỳ D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục cháu Lăng Kiến V1, sinh ngày 13/11/2023. Anh Lăng Tuấn V không
phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Nguyễn Kỳ D cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Lăng Tuấn V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Kỳ D, anh Lăng Tuấn V xác định không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
-
Về nợ chung: Chị Nguyễn Kỳ D, anh Lăng Tuấn V xác định không có
nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Ghi nhận chị D, anh V xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của chị D và anh V trong thời kỳ hôn nhân thì anh, chị phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
-
Về án phí sơ thẩm:
Chị Nguyễn Kỳ D phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0023801 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 12 tháng 12 năm 2024; Chị Nguyễn Kỳ D đã nộp đủ án phí.
Anh Lăng Tuấn V không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
-
Đương sự có mặt tham gia phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo
trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại
phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn
kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Vũ Sơn |
Bản án số 69/2025/HNGĐ-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 69/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
