Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƠN TRẠCH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2025/HS-ST

Ngày 18 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Linh Thu Hồng
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoài Đức Huệ
  • Ông Trần Văn Điệp
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Ngọc Thị Ngoan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

Trần Hoài L, sinh ngày 07 tháng 10 năm 2000 tại Hậu Giang; Nơi đăng ký thường trú: Khu vực Bình Thạnh C, B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. Nơi sinh sống: Ấp C, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Ngọc C và bà Bùi Ngọc D. Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/10/2024 đến ngày 28/10/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực N, Trại tạm giam Công an tỉnh Đ - Có mặt.

Lâm Vũ T, sinh ngày 20 tháng 9 năm 1996 tại Cà Mau; Nơi đăng ký thường trú: Ấp X, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau. Nơi sinh sống: Ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lâm Văn T1 và bà Nguyễn Thị N. Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Nguyệt H, sinh năm 1997 và có 01 người con sinh năm 2018.

Tiền án: Ngày 28/12/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm tính từ ngày tuyên án, về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” tại Bản án số 198/2021/HS-ST (tại thời điểm phạm tội mới bị cáo chưa chấp hành xong thời gian thử thách, bị cáo đã đóng án phí ngày 01/11/2024).

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/10/2024 đến ngày 28/10/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực N, Trại tạm giam Công an tỉnh Đ - Có mặt.

Ngô Hoàng K, sinh ngày 19 tháng 9 năm 1993 tại Cà Mau; Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Nơi sinh sống: Ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Việt L1 và bà Đặng Hồng G. Bị cáo chung sống như vợ chồng với chị Nguyễn Thị Kim C1, sinh năm 1993, có 01 con tên Ngô Nhựt C2, sinh năm 2015.

Tiền án: Ngày 14/02/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xử phạt 02 năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 35/2022/HS-ST (bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 01/11/2022 và đã đóng án phí ngày 23/3/2022).

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/10/2024 đến ngày 28/10/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực N, Trại tạm giam Công an tỉnh Đ - Có mặt.

- Bị hại: Anh Trần Văn M, sinh năm 1996 - Vắng mặt.

Địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 18/10/2024, Trần Hoài L rủ Lâm Vũ T và Ngô Hoàng K đến cổng Công ty TNHH C3 ở Khu công nghiệp N đón đánh anh Trần Văn M. Tại đây, L chặn xe anh M lại hỏi “mày phải tên M không” và nói tiếp “mày nói xấu một thằng nào trong công ty nên nó thuê tụi tao đánh mày”, anh M trả lời không có nói xấu ai. Triều và L xông vào dùng tay, mũ bảo hiểm đánh M nhưng không gây thương tích. K yêu cầu anh M kết bạn Z để hẹn uống cà phê hòa giải rồi để anh M về. L, T, K bàn nhau khi hẹn anh M ra nói chuyện hòa giải sẽ đe doạ, chiếm đoạt tiền của anh M.

Khoảng 17 giờ cùng ngày, K hẹn anh M ra quán C4 ở đường B thuộc ấp B, xã L, huyện N nói chuyện với K, T, L. Khi gặp nhau, L nói anh M “có người thuê tao đánh mày giá 4.000.000 đồng”, đồng thời đe doạ nếu M không đưa cho nhóm L 3.000.000 đồng thì ngày nào nhóm của L cũng đến công ty đánh và ép anh M phải nghỉ việc. Liền tiếp đó, T dùng chân đạp vào chân anh M. Anh M nói đang nợ tiền người khác, xin nhóm L giảm số tiền phải đưa.

Đến 11 giờ ngày 19/10/2024, anh M điện thoại cho K hẹn giao 1.500.000 đồng cho nhóm K để không bị đánh. Khá hẹn anh M đến khu vực nhà trọ G1 thuộc ấp B, xã L, huyện N giao tiền. Khá nói T đến điểm hẹn gặp anh M lấy tiền. Anh M đến chỗ hẹn giao cho T 1.500.000 đồng, rồi đến Đồn Công an khu công nghiệp Nhơn Trạch trình báo. Ngay sau đó, cơ quan công an đã tiến hành giữ khẩn cấp đối với T. Sau đó, L và K đến Công an xã L, huyện N đầu thú.

Về vật chứng thu giữ và xử lý:

  • - Thu giữ trên người Triều 1.500.000 đồng do phạm tội mà có, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh M.
  • - Thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S21 5G màu đen, bị hư màn hình của T, do không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho T.
  • - Thu giữ của Khá 01 điện thoại di động hiệu Iphone X 64G, màu trắng sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Tại Cáo trạng số 66/CT-VKSNT ngày 12 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố các bị cáo Trần Hoài L, Lâm Vũ T và Ngô Hoàng K về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58, Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Hoài L.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58, Điều 17, khoản 5 Điều 65, Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lâm Vũ T.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58, Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Ngô Hoàng K.

Tuyên bố các bị cáo Trần Hoài L, Lâm Vũ T và Ngô Hoàng K phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Về hình phạt:

  • Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Hoài L từ 01 (một) năm 08 (tám) tháng đến 02 (hai) năm tù.
  • Đề nghị xử phạt bị cáo Lâm Vũ T từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù.
  • Đề nghị xử phạt bị cáo Ngô Hoàng K từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trần Văn M đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Các bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Các bị cáo không có ý kiến hay tranh luận gì khác.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo rất ăn năn hối lỗi, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ để các bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo, bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, không có sự mâu thuẫn, phù hợp với nội dung Biên bản bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở xác định: Vào ngày 18/10 và ngày 19/10/2024, tại Ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Trần Hoài L, Lâm Vũ T và Ngô Hoàng K đã dùng lời lẽ đe dọa và dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt 3.000.000đ (ba triệu đồng) của anh Trần Văn M. Trong đó, Trần Hoài L là người thực hiện hành vi một cách tích cực, trực tiếp đưa ra lời lẽ uy hiếp, yêu cầu bị hại giao tiền. Ngô Hoàng K là người có lời lẽ uy hiếp bị hại chủ động liên lạc yêu cầu bị hại mang tiền đến điểm hẹn. Lâm Vũ T có hành vi uy hiếp bị hại, là người trực tiếp chiếm đoạt tiền của bị hại.

Hành vi của bị cáo Trần Hoài L, Lâm Vũ T và Ngô Hoàng K đã phạm vào tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố các bị cáo theo tội danh và khoản, Điều nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, vai trò cụ thể của các bị cáo như sau: Bị cáo Trần Hoài L với vai trò đầu vụ, là người rủ rê bị cáo Lâm Vũ T, Ngô Hoàng K thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản, chính bị cáo là người trực tiếp đưa ra lời lẽ uy hiếp và dùng vũ lực với bị hại, yêu cầu bị hại phải đưa tiền cho các bị cáo. Đối với bị cáo Lâm Vũ T và Ngô Hoàng K sau khi được bị cáo L rủ rê thì đồng ý ngay và thực hành một cách tích cực, trong đó bị cáo K là người có lời lẽ uy hiếp bị hại và chủ động liên lạc yêu cầu bị hại mang tiền đến điểm hẹn, bị cáo T có hành vi uy hiếp bị hại, là người trực tiếp lấy tiền của bị hại. Ngoài ra, bị cáo Lâm Vũ T đã bị Tòa án xét xử 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” bị cáo chưa chấp hành xong thời gian thử thách. Bị cáo Ngô Hoàng K bị Tòa án xét xử 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” chưa được xóa án tích, các bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, do vậy cần xử phạt bị cáo T và bị cáo K mức hình phạt ngang nhau và bằng với bị cáo L.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Ngô Hoàng K và Lâm Vũ T phạm tội thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo K và bị cáo L sau khi phạm tội đã ra đầu thú, bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Đối với bị cáo Lâm Vũ T, bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xử phạt 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 28/12/2021 về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Ngày 19 tháng 10 năm 2024, bị cáo lại tiếp tục phạm tội trong thời gian thử thách của án treo. Do đó, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 01 năm 06 tháng tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp hình phạt với tội phạm mới. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm ngàn đồng) thu giữ của Lâm Vũ T do phạm tội mà có, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho anh M là đúng quy định; 01 điện thoại di động hiệu S S21 5G màu đen, bị hư màn hình của T, do không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho T là đúng quy định. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X 64G, màu trắng của Ngô Hoàng K sử dụng vào việc phạm tội.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Văn M đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[9] Về các vấn đề khác: Đối với người tên “Toàn Em” (chưa rõ lai lịch), L khai T2 Em nhờ L đi đánh dằn mặt anh M. Tuy nhiên, anh M không bị thương tích và không có căn cứ xác định vai trò đồng phạm của Toàn E về hành vi cưỡng đoạt tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là đúng quy định.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về các vấn đề trong vụ án là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố các bị cáo Trần Hoài L, Lâm Vũ T và Ngô Hoàng K phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Hoài L 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19 tháng 10 năm 2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58, khoản 5 Điều 65, Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lâm Vũ T 02 (hai) năm tù. Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù của Bản án số 198/2021/HS-ST ngày 28/12/2021 của Toà án nhân dân huyện Nhơn Trạch về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Buộc bị cáo Lâm Vũ T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19 tháng 10 năm 2024, được trừ vào thời gian tạm giữ của Bản án số 198/2021/HS-ST, từ ngày 31/12/2020 đến ngày 09/01/2021.

Áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Ngô Hoàng K 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19 tháng 10 năm 2024.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X 64G, màu trắng. Vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch theo Quyết định chuyển vật chứng số 37/QĐ-VKSNT ngày 12/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Hoài L, Lâm Vũ T và Ngô Hoàng K mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện KSND huyện Nhơn Trạch;
  • - Chi cục THADS huyện Nhơn Trạch;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Linh Thu Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về cưỡng đoạt tài sản

  • Số bản án: 69/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Hoài L và đồng phạm cường đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger