|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 69/2025/HS-ST Ngày 17-3-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Bích Ngân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Đức Lý, Nguyễn Lập Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Diễm Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2025/TLST-HS ngày 24/02/2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2025/QĐXXST-HS ngày 03/3/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Chí H; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 02/8/2006; tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi thường trú: Tổ dân phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1975 và bà Trần Thị Kim L1, sinh năm 1979; Bị cáo chưa có vợ con;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị Kim L1, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ dân phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.
- Ông Trần Anh H1, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ dân phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ dân phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1958; địa chỉ: Số B L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Hoàng H2, sinh năm 2006; địa chỉ: Số H L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.
- Ông Phan Nhật T1, sinh năm 1990; địa chỉ: Số B L, tổ dân phố G, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Chí H là người sử dụng ma túy loại cần sa. Ngày 13/12/2024, H dùng điện thoại di động đăng nhập vào ứng dụng Telegram tên "Forty Seven", nhắn tin liên hệ đến tài khoản Telegram tên “L2 xinh yêu” của một người chưa xác định được nhân thân lai lịch, hỏi mua 50 gói giấy hình trụ (dạng điếu thuốc lá) bên trong có chứa ma túy loại cần sa với số tiền 1.500.000 đồng. H sử dụng số tài khoản 0014404958888 của H tại Ngân hàng M1 để chuyển khoản tiền mua ma túy đến số tài khoản 030019289999 Ngân hàng MB tên “Vu Tuan K”, rồi thỏa thuận với người bán gửi gói ma túy bằng xe khách, H nhắn thông tin số điện thoại 03877072, hẹn giao nhận ma túy tại khu vực đường V giao với đường Y, phường T, thành phố B. Đến ngày 14/12/2024, có nhân viên nhà xe (chưa xác định được thông tin nhà xe và nhân thân, lai lịch nhân viên) liên hệ giao cho H 01 gói hàng dán kín bên ngoài, H mang về nhà kiểm tra thì xác định là ma túy cần sa, H cất giấu để sử dụng và bán kiếm lời. Trong khoảng thời gian từ ngày 15/12/2024 đến ngày 21/12/2024, H đã 04 lần bán trái phép chất ma túy cần sa, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào ngày 15/12/2024, tại khu vực Bệnh viện Đ, H bán 01 điếu ma túy cần sa cho Phan Nhật T1 (sinh năm 1990, trú tại B L, tổ dân phố G, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk), thu lợi bất chính số tiền 170.000 đồng.
Lần thứ hai: Vào ngày 20/12/2024, tại khu vực Bảo tàng cà phê T trên đường N, phường T, thành phố B, Nguyễn Chí H bán 02 điếu ma túy cần sa cho người nam giới sử dụng tài khoản zalo tên “Hoàng N”, H đã nhận số tiền 300.000 đồng bán ma túy từ tài khoản Ngân hàng tên “Vu Hong T2” chuyển khoản đến tài khoản 0014404958888 Ngân hàng MB của H.
Lần thứ ba: khoảng 17 giờ ngày 21/12/2024, tại trước số nhà G L, phường T, thành phố B, H bán 01 điếu ma túy cần sa cho Phan Nhật T1, H đã nhận số tiền 170.000 đồng bán ma túy từ số tài khoản 2565087 Ngân hàng A tên Phan Nhật T1 đến tài khoản 0014404958888 Ngân hàng MB của H.
Lần thứ tư: vào tối ngày 21/12/2024, người nam giới sử dụng tài khoản zalo tên “Hoàng N” liên hệ đến tài khoản zalo tên “Chí Hiếu” của H, hỏi mua 03 điếu ma túy cần sa, H báo giá 450.000 đồng và yêu cầu chuyển qua số tài khoản 0014404958888 Ngân hàng MB của H. Sau khi nhận chuyển khoản số tiền trên, khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày 21/12/2024, Nguyễn Chí H điều khiển xe mô tô biển số 47B2-42174 mang theo 03 điếu ma túy cần sa để bán, khi đi đến địa chỉ F N, phường T, thành phố B thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố B bắt quả tang, tạm giữ vật chứng của vụ án theo quy định.
Ngoài ra, quá trình điều tra, Nguyễn Chí H còn khai nhận: vào ngày 06/12/2024, H đã sử dụng tài khoản Telegram “Forty Seven” của H liên hệ đến tài khoản Telegram tên “L2 xinh yêu” để mua 50 điếu ma túy cần sa với số tiền 1.560.000 đồng, H dùng tài khoản 0014404958888 Ngân hàng MB của H chuyển khoản số tiền trên đến tài khoản 030019289999 Ngân hàng MB tên “Vu Tuan Kiet”, sau đó người bán đã gửi gói ma túy qua nhà xe cho H. Số ma túy này H khai đã sử dụng hết.
Tại Bản kết luận giám định số 73 ngày 30/12/2024, của Phòng K2 Công an tỉnh Đ, kết luận: 03 (ba) gói giấy hình trụ chứa chất thảo mộc khô, được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Cần sa, có tổng khối lượng 2,7995gam.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với bị cáo Nguyễn Chí H, kết quả: Dương tính (+) với M.
Tại Cáo trạng số 67/CT-VKSTP.BMT ngày 24/02/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Nguyễn Chí H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và đúng theo nội dung Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố.
Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.
- Các biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu, tiêu hủy các mẫu vật là ma túy còn lại sau khi giám định có khối lượng 2,1246 gam ma túy Cần sa và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu.
- + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số imel 356717082511964.
- + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với số tiền 940.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Chí H thu lợi từ việc bán ma túy.
- + Tịch thu, tiêu hủy đối với sim số 0382877072
- + Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố B ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47B2-42174, số máy JA36E-0660577, số khung RLHJA3645GY138741 cho bà Trần Thị Kim L1 là chủ sở hữu hợp pháp.
- + Truy thu sung ngân sách Nhà nước đối với số tiền 150.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Chí H thu lợi từ việc bán ma túy.
Các vấn đề khác đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận như nội dung tại bản Cáo trạng.
Bị cáo không tranh luận nội dung gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi của mình đã thực hiện. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ căn cứ kết luận: Vào ngày 13/12/2024, Nguyễn Chí H đã mua 50 điếu ma túy cần sa của một người sử dụng tài khoản Telegram tên “L2 xinh yêu” với số tiền 1.500.000 đồng để sử dụng và bán kiếm lời. Trong các ngày15-21/12/2024, H đã 03 lần bán trái phép ma túy loại cần sa tại địa bàn thành phố B, thu lợi bất chính số tiền 640.000 đồng. Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 21/12/2024, Nguyễn Chí H đang trên đường mang theo 03 điếu ma túy cần sa có khối lượng 2,7995 gam đến khu vực đường N, phường T, thành phố B để bán cho đối tượng sử dụng tài khoản zalo tên “H”, nhằm thu lợi bất chính số tiền 450.000 đồng thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.
Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ từ 07 năm đến 15 năm:
...
b, Phạm tội 02 lần trở lên;"
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Nguyễn Chí H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Bị cáo có đủ năng lực hành vi dân sự để nhận thức được ma túy cần sa là chất ma túy gây nghiện, làm hủy hoại sức khỏe con người, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội, dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật về hình sự tại địa phương, nhưng do ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy mà còn xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét, cân nhắc và áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đã thực hiện, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện khai báo về hành vi mua bán chất ma túy trước hành vi phạm tội bị bắt quả tang vào ngày 21/12/2024, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những nhận định trên. HĐXX xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoảng thời gian mới có đủ điều kiện và thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[5] Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
- - Đối với chất ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 2,1246 gam ma túy Cần sa và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu được niêm phong trong 01 phong bì số 73/KL-KTHS ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Nguyễn Chí H - BMT”. Đây là tang vật của vụ án nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số imel 356717082511964 là tài sản hợp pháp của bị cáo H sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.
- - Đối với sim số 0382877072 do bị cáo H sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- - Đối với xe mô tô biển số 47B2-42174, số máy JA36E-0660577, số khung RLHJA3645GY138741, quá trình điều tra xác định do ông Trần Anh H1, sinh năm 1974, trú tại TDP F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe. Ông H1 đăng ký tên hộ cho em gái là bà Trần Thị Kim L1, sinh năm 1979, trú tại TDP F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (mẹ của bị cáo H), do đó bà L1 là chủ sở hữu hợp pháp đối với tài sản trên. Ngày 21/12/2024, bị cáo H mượn, sử dụng xe mô tô 47B2-42174 vào việc phạm tội, bà L1 không biết. Do đó, việc Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho bà L1 là phù hợp với quy định pháp luật, nên cần chấp nhận.
- - Đối với số tiền 940.000 đồng mà bị cáo H thu lợi bất chính từ việc bán ma túy do ông Nguyễn Văn T (bố của bị cáo H) tự nguyện giao nộp, nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước
- - Truy thu sung ngân sách Nhà nước đối với số tiền 150.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Chí H thu lợi từ việc bán ma túy.
[6] Các vấn đề khác:
- - Đối với người sử dụng tài khoản Telegram tên “Loan Xinh Y”; người sử dụng số tài khoản 030019289999 Ngân hàng MB tên “Vu Tuan K” bán ma túy cho bị cáo H và người nam giới sử dụng tài khoản zalo tên “Hoàng N”; tài khoản Ngân hàng tên “VU HONG TAM” mua ma túy của bị cáo H, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định số tài khoản 030019289999 Ngân hàng MB do Vũ Tuấn K1, sinh năm 1997, trú tại xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định đứng tên chủ tài khoản, hiện K1 vắng mặt tại địa phương nơi cư trú nên Cơ quan Công an chưa làm việc được. Đồng thời Cơ quan điều tra cũng có công văn yêu cầu cung cấp thông tin liên quan đến số tài khoản 0935707304 tên VU HONG TAM, nhưng chưa nhận được công văn trả lời nên chưa xác định được nhân thân, lai lịch người đã mua ma túy của bị cáo H. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B tách hành vi của Vũ Tuấn K1 cùng những người liên quan khác ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh, xử lý sau là phù hợp.
- - Đối với Phan Nhật T1 mua ma túy Cần sa của bị cáo H để sử dụng và đã sử dụng hết, không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự và xử phạt vi phạm hành chính nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
- - Đối với ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị Kim L1, là chủ nhà nơi bị cáo H cất giấu ma túy; là chủ xe mô tô được bị cáo H sử dụng làm phương tiện đi bán ma túy; bà L1 là người đứng tên số thuê bao 082877072 được bị cáo H sử dụng vào việc phạm tội. Quá trình điều tra xác định ông T, bà L1 không đồng phạm với bị cáo H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Chí H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H: 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 22/12/2024.
2. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,
- - Tịch thu, tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 2,1246 gam ma túy Cần sa và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu được niêm phong trong 01 phong bì số 73/KL-KTHS ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Nguyễn Chí H - BMT”.
- - Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số imel 356717082511964, bể màn hình, điện thoại đã qua sử dụng.
- - Tịch thu, tiêu hủy đối với sim số 0382877072.
- - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với số tiền 940.000₫ (Chín trăm bốn mươi nghìn đồng).
- (Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/02/2025 giữa Công an thành phố B với Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột)
- - Truy thu sung ngân sách Nhà nước đối với số tiền 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) mà bị cáo Nguyễn Chí H thu lợi từ việc bán ma túy.
- - Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô mang biển số 47B2-42174, số máy JA36E-0660577, số khung RLHJA3645GY138741 trên cho bà Trần Thị Kim L1 là chủ sở hữu nhận quản lý, sử dụng.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc Nguyễn Chí H phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhân:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Bích Ngân |
Bản án số 69/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 69/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
