TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 17-3-2025
V/v ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Mỹ Lil
Bà Nguyễn Kim Lên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Linh. Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 649/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Hồng Đ, sinh ngày 01/01/1993 (Xin vắng)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hải B, sinh năm 1993 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 10 năm 2024 của nguyên đơn là bà Trần Hồng Đ trình bày:
Về hôn nhân: Bà Đ và ông B kết hôn năm 2013, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K. Do bất đồng trong cuộc sống, tính tình không phù hợp, hôn nhân không hạnh phúc. Nay bà Đ yêu cầu xin ly hôn với ông B.
Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Phước T, sinh ngày 12/11/2013 và Nguyễn Thế H, sinh ngày 09/12/2021, hiện đang do bà Đ nuôi dạy. Bà Đ yêu cầu nuôi con, yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng/cháu.
Về tài sản chung: Tự thoả thuận
Nợ chung: Không có.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025, bà Đ yêu cầu Toà án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt bà Đ.
Đối với ông Nguyễn Hải B, mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ đến Tòa án để xét xử vụ án nhưng ông Nguyễn Hải B đều vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Trần Hồng Đ và ông Nguyễn Hải B là tranh chấp về ly hôn; bị đơn là ông Nguyễn Hải B có nơi cư trú tại huyện T nên bà Đ khởi kiện yêu cầu giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với việc vắng mặt của ông Nguyễn Hải B, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng ông Nguyễn Hải B vẫn không có ý kiến phản hồi đồng thời cũng không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Hải B theo quy định. Đối với việc đề nghị vắng mặt của bà Trần Hồng Đ, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà Đ theo quy định.
[2] Về hôn nhân: Bà Đ và ông B xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2013, có đăng ký kết hôn và đủ điều kiện kết hôn theo luật định nên hôn nhân được chấp nhận là hợp pháp và được pháp luật công nhận, bảo vệ. Bà Đ cho rằng do vợ chồng tính tình không phù hợp, bất đồng trong cuộc sống, hôn nhân không còn hạnh phúc, nên bà Đ yêu cầu được ly hôn với ông B. Về phía ông B, mặc dù biết được yêu cầu khởi kiện của bà Đ nhưng ông B cũng không có ý kiến thể hiện nguyện vọng hàn gắn mối quan hệ hôn nhân cùng bà Đ. Từ đó, Hội đồng xét xử thấy rằng, mối quan hệ hôn nhân giữa bà Đ, ông B không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Trần Hồng Đ ly hôn với ông Nguyễn Hải B. Từ đó, Hội đồng xét xử thấy rằng, mối quan hệ hôn nhân giữa bà Đ, ông B không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Đ được ly hôn với ông B.
[3] Về con chung: Bà Đ yêu cầu nuôi các con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 06/12/2024, cháu Nguyễn Phước T có nguyện vọng được chung sống cùng bà Đ, cháu Nguyễn Thế H còn ít tuổi, các cháu đều đang sinh sống ổn định cùng bà Đ. Do đó, giao các cháu cho bà Đ nuôi dạy là phù hợp.
Bà Đ yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng/cháu. Hội đồng xét xử xét thấy, ông B không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con là phù hợp, mức cấp dưỡng bà Đ đặt ra phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, buộc ông Nguyễn Hải B phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 1.500.000đồng/tháng cho mỗi cháu là có căn cứ.
[4] Về tài sản chung: Không có yêu cầu nên không xem xét.
[5] Về nợ chung: Không có yêu cầu nên không xem xét.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn. Bị đơn phải chịu án phí đối với người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Hồng Đ về việc ly hôn với ông Nguyễn Hải B.
2. Giao cho bà Trần Hồng Đ nuôi dạy Nguyễn Phước T, sinh ngày 12/11/2013 và Nguyễn Thế H, sinh ngày 09/12/2021; ông Nguyễn Hải B có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu số tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng/tháng. Thời hạn cấp dưỡng tính kể từ ngày tuyên án (17/3/2025) đến khi người được cấp dưỡng đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày bà Trần Hồng Đ có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn Hải B không tự nguyện thi hành xong khoản tiền cấp dưỡng nuôi con thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
3. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, bà Trần Hồng Đ phải chịu 300.000 đồng. Ngày 28 tháng 10 năm 2024, bà Trần Hồng Đ đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005802 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, được đối trừ. Ông Nguyễn Hải B phải chịu 300.000 đồng, chưa nộp.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Thị Huệ |
Bản án số 69/2025/HNGĐ-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về ly hôn
- Số bản án: 69/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
