Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ MỘC CHÂU

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2025/HS-ST

Ngày 10 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hội và ông Tường Duy Bình.

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Lệ Giang, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lý Hoàng Linh, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 74/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 69/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Đỗ Đình Đ, sinh ngày: 14/6/1991 tại huyện M (nay là thị xã M), tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường M, thị xã M, tỉnh Sơn La (trước đây là Tiểu khu A, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn La); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn C và bà Nguyễn Thị D; có vợ là Lò Thị O, chưa có con;

Tiền án: Tại Bản án số 27/2011/HSST ngày 14/11/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu (nay là thị xã M), tỉnh Sơn La xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chưa chấp hành phần bồi thường dân sự (chưa được xóa án tích); Tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại Bản án số 156/2010/HSST ngày 06/7/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu (nay là thị xã M), tỉnh Sơn La xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Tại Bản án số 02/2015/HSST ngày 27/10/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt 45 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đều đã được xóa án tích);

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2024 đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 17/12/2024, Đỗ Đình Đ đi đến tiểu khu B, thị trấn M, huyện M mục đích tìm mua ma túy mang về sử dụng. Trên đường đi vào rừng ma thuộc tiểu khu B, Đỗ Đình Đ gặp và hỏi mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu trắng với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Đ cất giấu ma túy vào túi quần bên phải rồi đi về thì bị Tổ công tác Công an thị trấn M kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của Đỗ Đình Đ: 01 gói bằng mảnh nilon màu trắng bên trong đựng cục chất bột màu trắng nghi là Heroine.

Ngày 17/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã tiến hành mở niêm phong, cân xác định chất cục bột màu trắng thu giữ của Đỗ Đình Đ có khối lượng 0,28 gam. Lấy toàn bộ làm mẫu giám định, mẫu có ký hiệu Đ.

Tại Kết luận giám định số 31/KL-KTHS ngày 19/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: Mẫu ký hiệu Đ gửi giám định là ma tuý, loại Heroine (H), có tên khoa học là D1; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,28 gam; Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,28 gam, loại Heroine, có tên khoa học là D1.

Cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 21/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mộc Châu truy tố bị can Đỗ Đình Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Đình Đ trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Đình Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Đình Đ từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
  • - Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong đựng mảnh nilon màu trắng và vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Đỗ Đình Đ.
  • - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mộc Châu phát biểu luận tội, bị cáo Đỗ Đình Đ nhất trí với toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Đình Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, số ma túy bị cáo bị tổ công tác Công an thị trấn M, huyện M thu giữ vào ngày 17/12/2024 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông không quen biết với giá 200.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an thị trấn M, huyện M lập vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 17/12/2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Đỗ Đình Đ là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 17/12/2024 bị cáo Đỗ Đình Đ đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,28 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự quy định bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Vì vậy, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mộc Châu đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị áp dụng một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[6] Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, có nhiều tiền án (02 tiền án về tội trộm cắp tài sản và 01 tiền án về tội phạm ma túy), nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục tái nghiện ma tuý dẫn đến có hành vi phạm tội.

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[7] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, nhưng xét thấy bị cáo là người nghiện ma tuý, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về vật chứng, xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì bên trong đựng mảnh nilon màu trắng và vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Đỗ Đình Đ. Xét thấy đây là những vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Về án phí: Bị cáo Đỗ Đình Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[11] Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Đỗ Đình Đ, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

Thời hạn tạm giam đối với bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Đỗ Đình Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Đỗ Đình Đ 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 17/12/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

  2. Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong đựng mảnh nilon màu trắng và vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Đỗ Đình Đ.

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 73/BBVC-CCTHA ngày 25/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Mộc Châu).

  3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Về án phí: Buộc bị cáo Đỗ Đình Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

  4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10/3/2025).

Nơi nhận:

- Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;

- VKSND tỉnh Sơn La;

- VKSND thị xã Mộc Châu;

- Công an tỉnh Sơn La (3);

- Chi cục THADS thị xã Mộc Châu;

- Trại giam;

- THA HS;

- Bị cáo;

- Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đỗ Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2025/HS-ST ngày 10/03/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 69/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 17/12/2024 bị cáo Đỗ Đình Đ đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,28 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự quy định bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger