TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2024/HS-ST Ngày: 10-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tùng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trương Hữu Bình.
- Bà Nguyễn Thị Lệ Mỹ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thọ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Võ Thế Duẩn - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai để xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 78/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Duy L, sinh năm 1995 tại tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương; số CCCD/số định danh cá nhân: 074095008141; nghề nghiệp: Tài xế; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Ngọc L1 và bà Nguyễn Thị Ngọc H; bị cáo có 01 em, sinh năm 2002; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/4/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện D; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Duy L là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2016 cho đến nay. Khoảng 15 giờ ngày 01/4/2024, L dùng điện thoại di động hiệu Vsmart có số
thuê bao 0944566644 gọi điện cho bạn tên L2 (không rõ nhân thân lai lịch) qua số thuê bao 0969339903, cả hai hẹn gặp nhau tại thành phố T, tỉnh Bình Dương để đi chơi và ăn uống thì L2 đồng ý. Sau đó, L đi xe buýt từ thị trấn D, huyện D đến thành phố T, tỉnh Bình Dương. Khi L đến bến xe B thì L2 điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) đón L đi chơi. Đến khoảng 08 giờ ngày 02/4/2024, L2 chở L ra bến xe B thì L nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng và biết L2 là người nghiện ma túy nên L đưa cho L2 số tiền 500.000 đồng nhờ L2 đi mua ma túy giùm L, L2 đồng ý. L2 chạy xe đi mua ma túy cho L, khoảng 15 phút sau, L2 quay lại đưa cho L một túi nylon miệng kéo dính (bên trong có chứa ma túy), L cầm và bắt xe buýt đi về nhà L tại khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương rồi cất giấu số ma túy trên trong phòng ngủ của L. L lên mạng xã hội xem hướng dẫn chế tạo bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá và làm theo để sử dụng ma túy. Đến khoảng 10 giờ 00 phút ngày 20/4/2024, L lấy ma túy ra sử dụng, sau khi sử dụng ma túy xong L để phần ma túy còn lại trong túi nylon miệng dán kín tại bàn ở phòng khách cùng với bộ D sử dụng ma túy thì bị Công an thị trấn D, huyện D phát hiện và bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số 2032/KL -KTHS(MT) ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng/trọng lượng 0,4654 gam.
Tại Cáo trạng số 73/CT-VKS-DT ngày 14/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương trong phần tranh tụng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Duy L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Duy L từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu huỷ đối với ma túy tại 01 (một) túi nylon miệng kéo dính, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng sau giám định 0,3799 gam được niêm phong trong bì thư ghi số 2032/PC09 dán kín có chữ ký cán bộ niêm phong Nguyễn Thái H1, đại úy Hồ Tấn P – trưởng Công an thị trấn D, người chứng kiến Nguyễn Duy L và hình dấu đỏ của Công an thị trấn D, Nguyễn Hoàng N (cán bộ trả mẫu), Nguyễn Văn N1 (cán bộ nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B.
Đối với 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế, là công cụ bị cáo Nguyễn Duy L sử dụng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với người thanh niên tên L2, quá trình điều tra không xác định được rõ nhân thân, lai lịch và việc L2 sử dụng số thuê bao 0969.339.903 để mua ma túy giùm cho Nguyễn Duy L. Do không đủ thông tin và cở sở để xác minh làm rõ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D tiếp tục điều tra, làm rõ khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Duy L trình bày: Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo biết hành vi của mình là sai và rất hối hận, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm quay trở về với gia đình làm người công dân tốt, có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, cụ thể: Ngày 02/4/2024, Nguyễn Duy L đón xe buýt đi từ nhà đến thành phố T, tỉnh Bình Dương gặp và nhờ người bạn tên L2 (không rõ nhân thân, lai lịch) mua ma túy loại Methamphetamine với giá 500.000 đồng nhằm mục đích đem về nhà tại khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương cất giấu và sử dụng dần. Đến khoảng 11 giờ 25 phút ngày 20/4/2024, L lấy ma túy ra sử dụng và để phần ma túy Methamphetamine còn lại có khối lượng 0,4654 gam được đựng trong túi nylon miệng kéo dính trên bàn tại nhà thì bị Công an thị trấn D, huyện D phát hiện bắt giữ. Tại Kết luận giám định số 2032/KL-KTHS(MT) ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng/trọng lượng 0,4654 gam. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận bản Cáo trạng số 73/CT-VKS-DT ngày 14/10/2024 truy tố bị cáo Nguyễn Duy L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Bị cáo Nguyễn Duy L là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức để biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp hậu quả thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án.
[4] Bị cáo là người biết rõ tác hại của việc sử dụng trái phép chất ma tuý. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà nay lại thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm mục đích sử dụng, điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện D, tỉnh Bình Dương nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung nên cần xử lý bị cáo nghiêm bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm có điều kiện để giáo dục và cải tạo thành người công dân tốt cho xã hội.
[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[5.1] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5.2] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Xét thấy hình phạt chính đã đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng:
[7.1] Đối với ma túy tại 01 (một) túi nylon miệng kéo dính, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng sau giám định 0,3799 gam được niêm phong trong bì thư ghi số 2032/PC09 dán kín có chữ ký cán bộ niêm phong Nguyễn Thái H1, đại úy Hồ Tấn P – trưởng Công an thị trấn D, người chứng kiến Nguyễn Duy L và hình dấu đỏ của Công an thị trấn D, Nguyễn Hoàng N (cán bộ trả mẫu), Nguyễn Văn N1 (cán bộ nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B. Đây là vật chứng của vụ án, cần tịch thu tiêu hủy.
[7.2] Đối với 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế là công cụ bị cáo Nguyễn Duy L sử dụng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[8] Đối với người thanh niên tên L2 (không rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng số thuê bao 0969.339.903, mua ma túy giùm cho Nguyễn Duy L. Quá trình điều tra, do không đủ thông tin và cở sở để xác minh làm rõ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D cần tiếp tục điều tra, làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định.
[9] Ý kiến luận tội của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Nguyễn Duy L về phần tội danh, điều khoản truy tố, mức hình phạt cũng như đề nghị xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với các tình tiết của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được Hội đồng xét xử chấp nhận
[10] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Duy L phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 38, 46, 47 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào Điều 106, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 299; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy L 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 20/4/2024.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
2.1. Tịch thu tiêu huỷ đối với: 01 (một) túi nylon miệng kéo dính, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng sau giám định 0,3799 gam được niêm phong trong bì thư ghi số 2032/PC09 dán kín có chữ ký cán bộ niêm phong Nguyễn Thái H1, đại úy Hồ Tấn P – trưởng Công an thị trấn D, người chứng kiến Nguyễn Duy L và hình dấu đỏ của Công an thị trấn D, Nguyễn Hoàng N (cán bộ trả mẫu), Nguyễn Văn N1 (cán bộ nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B.
2.2. Tịch thu tiêu huỷ đối với: 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế.
Các vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/10/2024 giữa Công an huyện D và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Duy L phải nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 10/12/2024)./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Thị Lệ Mỹ Trương Hữu Bình | Trần Văn Tùng |
Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 69/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy L Đ249
