Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠI LỘC

TỈNH QUẢNG NAM

Bản án số: 69/2024/HS-ST

Ngày 09-12-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tấn Nhựt.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Công Hiền.

Ông Võ Nam Phước.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam tham

gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Trúc Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2024/TLST-HS, ngày 11 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-HS, ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn P, sinh năm 1974, tại huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: Không đi học; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn G (sinh năm 1952) và bà Nguyễn Thị T (sinh năm 1952); Vợ: Phạm Thị T1, sinh năm: 1974; Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm: 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2013.

Tiền án: ngày 06/12/2023, bị Toà án nhân dân huyện Đại Lộc xử phạt 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Đang chấp hành án theo Quyết định thi hành án số 05/2024/QĐ-CA ngày 11/01/2024 của TAND huyện Đại Lộc).

Tiền sự: không.

Nhân thân:

- Ngày 11/7/2022, bị UBND xã Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, phạt tiền 2.500.000 đồng.

- Ngày 10/10/2022, bị UBND xã Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xúc phạm nhân phẩm của người khác”, phạt tiền 2.500.000 đồng.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn P1 (Tên gọi khác là X), sinh năm 1978, tại huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn G (sinh năm 1952) và bà Nguyễn Thị T (sinh năm 1952); Vợ: Nguyễn Thị T2, sinh năm: 1976; Bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm: 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2004.

Tiền án: ngày 06/12/2023, bị Toà án nhân dân huyện Đại Lộc xử phạt 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Đang chấp hành án theo Quyết định thi hành án số 04/2024/QĐ-CA ngày 11/01/2024 của TAND huyện Đại Lộc).

Tiền sự: không.

Nhân thân: ngày 21/11/2022, bị UBND xã Đ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, phạt tiền 2.500.000 đồng.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

* Bị hại: Công ty TNHH MTV T3. Địa chỉ: thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.

Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Phan Thị N, sinh năm: 1982. Chức vụ: Kế toán. Địa chỉ: thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn P và Nguyễn Văn P1 là anh em ruột. Ngày 06/12/2023, P và P1 đã bị Toà án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xoá án tích. Khoảng 08 giờ ngày 15/3/2024, Nguyễn Văn P mang theo một cái rựa đi bộ từ nhà tại thôn M, xã Đ, huyện Đ ra đường Q tìm kiếm dây điện để chặt trộm bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi đến đoạn gần trụ điện 500KV thuộc thôn P, xã Đ, huyện Đ, P nhìn thấy phía mép đường bên phải (hướng Đại Quang - Đ) có một đường dây điện bọc nhựa màu đen là tài sản của Công ty TNHH MTV T3 nên P dùng rựa chặt một đoạn dây điện dài 12 mét. Sau đó, P kéo đoạn dây điện lên khu mộ trên núi gần đó, dùng rựa chặt đoạn dây điện thành nhiều đoạn nhỏ (chiều dài trung bình mỗi đoạn khoảng 70 cm đến 90 cm) và bỏ vào bao tải (do P nhặt được trên đường) rồi đem về nhà Nguyễn Văn P1 tại thôn M, xã Đ, huyện Đ để bóc tách lõi nhôm mang đi bán. Khi P đang bóc vỏ dây điện thì P1 đi làm về. Nhìn thấy Phan về, P nói Phan bóc vỏ dây điện để P tiếp tục đi lấy dây điện. P mang rựa đến khu mộ trên núi tiếp tục chặt đoạn dây điện còn lại thành nhiều đoạn nhỏ rồi bỏ vào bao tải mang về nhà P1. Phan thấy P mang dây điện về nên hỏi “dây điện ở đâu”, P trả lời “dây điện ta vừa chặt trộm được tại thôn P gần đường Q”. Lúc này, Phan biết nguồn gốc số dây điện trên là do P trộm cắp mà có. Sau đó, P và P1 dùng dao, rựa bóc tách lõi nhôm dây điện để bán lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi P và P1 đang bóc vỏ dây điện thì bị Công an xã Đ kiểm tra phát hiện lập biên bản, tạm giữ các tang vật có liên quan.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 29/KL-HĐĐGTS ngày 21/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: Dây cáp nhôm bọc nhãn hiệu Cadivi, loại dây điện lực ABC (4x70) mm2-0,6/1Kv, dài 12 mét có giá trị 942.480 đồng (Chín trăm bốn mươi hai nghìn bốn trăm tám mươi đồng). Kẹp IPC 120-120, bulon, số lượng 05 cái có giá trị 289.000 đồng (Hai trăm tám mươi chín nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản là 1.231.480 đồng (Một triệu hai trăm ba mươi mốt nghìn bốn trăm tám mươi đồng).

- Vật chứng thu giữ::

  • + 01 (một) cái rựa dài 54cm; phần cán rựa dài 24cm, bằng gỗ, hình trụ tròn; phần lưỡi rựa bằng kim loại dài 30cm, chỗ rộng nhất 04cm (đã qua sử dụng).
  • + 01 (một) cái dao dài 41cm: phần cán dao dài 12cm, bằng gỗ, hình trụ tròn; phần lưỡi dao bằng kim loại dài 29cm, chỗ rộng nhất 06cm (đã qua sử dụng).
  • + 01 (một) cái mỏ lết dài 30 cm, bằng kim loại, phần tay cầm có bọc nhựa màu đỏ, trên thân ở phần đầu mỏ lết có đúc chữ số “300x36” (đã qua sử dụng).
  • + Nhiều đoạn dây cáp bằng kim loại bị cắt thành từng đoạn ngắn, chiều dài trung bình mỗi đoạn khoảng 70cm đến 90cm; trong đó một số đoạn cáp bị bóc vỏ nhựa bên ngoài, một số đoạn còn nguyên vỏ nhựa; tổng khối lượng 9.5kg.
  • + Nhiều đoạn vỏ nhựa được bóc tách từ dây cáp, tổng khối lượng 0.6kg.
  • + 01 (một) đoạn gỗ hình trụ tròn, dài 67cm, chu vi 27cm.
  • + 01 (một) tấm gỗ dài 103cm, rộng 21cm, dây 04cm.
  • + 01 (một) cái bao tải màu trắng, có sọc màu xanh;
  • + 05 (năm) kẹp IPC 120-120, bulon.
  • + 01 (một) khối nhựa bị đốt cháy màu đen, có hình đa diện lẫn tạp chất, khối lượng 19.5kg.

Về dân sự: Bà Phan Thị N là đại diện theo uỷ quyền của Công ty TNHH MTV T3 không yêu cầu bồi thường về dân sự.

Tại bản Cáo trạng số: 54/CT-VKSĐL ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); truy tố bị cáo Nguyễn Văn P1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo theo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 38, 55, 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Tổng hợp hình phạt còn lại của Bản án số 75/2023/HS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc là 125 ngày cải tạo không giam giữ (được quy đổi 3 ngày cải tạo không giam giữ thành 01 ngày tù, tương đương với 42 ngày tù). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P1 từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Tổng hợp hình phạt còn lại của Bản án số 75/2023/HS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc là 217 ngày cải tạo không giam giữ (được quy đổi 3 ngày cải tạo không giam giữ thành 01 ngày tù, tương đương với 72 ngày tù). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xử lý tịch thu tiêu huỷ hoặc sung vào Ngân sách Nhà nước các vật chứng liên quan đến vụ án.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn P khai nhận: Do không có tiền tiêu xài nên ngày 15/3/2024, bị cáo đã mang theo một cái rựa đi bộ từ nhà tại thôn M, xã Đ, huyện Đ ra đường Q tìm kiếm dây điện để chặt trộm bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi đến đoạn gần trụ điện 500KV thuộc thôn P, xã Đ, huyện Đ, bị cáo nhìn thấy phía mép đường bên phải (hướng Đại Quang - Đ) có một đường dây điện bọc nhựa màu đen nên dùng rựa chặt một đoạn dây điện dài khoảng 12 mét. Sau đó, bị cáo kéo đoạn dây điện lên khu mộ trên núi gần đó, dùng rựa chặt đoạn dây điện thành nhiều đoạn nhỏ (chiều dài trung bình mỗi đoạn khoảng 70 cm đến 90 cm) và bỏ vào bao tải (do bị cáo nhặt được trên đường) rồi đem về nhà Nguyễn Văn P1 (là em ruột bị cáo) để bóc tách vỏ nhựa lấy lõi nhôm mang đi bán. Khi bị cáo đang bóc vỏ dây điện thì bị cáo Phan Đ làm về. Nhìn thấy Phan V, bị cáo nói Phan bóc vỏ dây điện để bị cáo tiếp tục đi lấy dây điện nhưng P1 chưa kịp trả lời. Bị cáo tiếp tục mang rựa đến khu mộ trên núi chặt đoạn dây điện còn lại thành nhiều đoạn nhỏ rồi bỏ vào bao tải mang về nhà P1. Khi thấy bị cáo mang dây điện về nên Phan hỏi “dây điện ở đâu”, bị cáo trả lời “dây điện ta vừa chặt trộm được tại thôn P gần đường Q”. Bị cáo Nguyễn Văn P1 khai nhận, khi biết được nguồn gốc số dây điện trên là do bị cáo P trộm cắp mà có tuy nhiên là chỗ anh em ruột nên bị cáo không ngăn cản bị cáo P, không trình báo sự việc cho cơ quan chức năng mà mặc nhiên để cho P lấy nhà mình làm nơi chứa chấp để tiêu thụ tài sản. Bị cáo đã giúp đỡ bị cáo P trong việc bóc tách vỏ nhựa dây điện, lấy lõi nhôm bên trong để cho P bán lấy tiền. Khi các bị cáo đang ngồi bóc tách dây điện trộm cắp được thì bị Công an kiểm tra phát hiện lập biên bản, tạm giữ các tang vật có liên quan. Tổng giá trị tài sản bị cáo P trộm cắp được định giá là 1.231.480 đồng (Một triệu hai trăm ba mươi mốt nghìn bốn trăm tám mươi đồng).

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo P, bị cáo Phan tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố cũng như phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để khẳng định hành vi lén lút chủ sở hữu, dùng rựa chặt (cắt) đoạn dây điện thuộc sở hữu hợp pháp của Công ty TNHH Một thành viên T3 của bị cáo P, sau đó đem về bóc, tách vỏ nhựa dây điện, lấy lõi nhôm bên trong để bán lấy tiền tiêu xài, mặc dù tổng giá trị tài sản trộm cắp được định giá là 1.231.480 đồng nhưng trước đó bị cáo P đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nên hành vi phạm tội lần này của bị cáo P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) với tình tiết định khung hình phạt là “Đã bị kết án về hành vi này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc đã truy tố bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật. Đối với hành vi của bị cáo Phan mặc D biết rõ tài sản trên do hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo P mà có, tuy không có hứa hẹn trước với bị cáo P nhưng để mặc cho bị cáo P sử dụng chỗ ở của mình để chứa chấp tiêu thụ tài sản, giúp đỡ bị cáo P trong việc bóc, tách vỏ nhựa dây điện, đốt vỏ dây điện, lấy lõi nhôm để cho bị cáo P bán lấy tiền tiêu xài. Hành vi của bị cáo P1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc đã truy tố bị cáo Phan theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và trách nhiệm của các bị cáo thì thấy: Bị cáo Nguyễn Văn P có đầy đủ khả năng nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, để có tiền tiêu xài, bị cáo đã bất chấp pháp luật, lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo Nguyễn Văn P1 có đầy đủ khả năng nhận thức được rằng tài sản trên do bị cáo P trộm cắp mà có nhưng không ngăn cản, để mặc cho bị cáo P dùng nhà mình làm nơi chứa chấp tài sản phạm tội, giúp đỡ bị cáo P thực hiện hành vi phạm tội ở khâu tiêu thụ tài sản. Hành vi của bị cáo P1 đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đồng thời gián tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự do tình tiết tăng nặng đã được áp dụng trong định khung hình phạt; Bị cáo P1 có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm nên bị cáo Phan bị áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, các bị cáo có ông nội, bà nội, cô ruột là người có công với cách mạng nên các bị cáo còn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Các bị cáo đều có nhân thân xấu đó là, ngoài lần phạm tội này các bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Các bị cáo đang trong quá trình chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tại địa phương (Chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ từ ngày 17/01/2024) nhưng lại tiếp tục phạm tội mới do đó các bị cáo phải chịu hình phạt của tội này với hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại của Bản án số 75/2023/HS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc theo quy định tại các Điều 55, 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) tính từ ngày các bị cáo phạm tội mới. Vì vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử nghiêm đối với các bị cáo và đồng thời cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo có điều kiện được cải tạo, giáo dục thành người có ích cho xã hội. Trong vụ án này, tính chất mức độ của hành vi trộm cắp do bị cáo P thực hiện là nghiêm trọng hơn, là nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo P1, do đó bị cáo P phải chịu hình phạt cao hơn hình phạt của bị cáo Phan L phù hợp.

[6] Về các vấn đề khác có liên quan:

- Bà Phạm Thị T1 (sinh năm 1974, trú thôn M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; là vợ của Nguyễn Văn P) và bà Nguyễn Thị T2 (sinh năm 1976, trú thôn M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; là vợ của Nguyễn Văn P1) không biết Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn P1 sử dụng các dụng cụ, công cụ của gia đình và sử dụng nhà ở để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ không đề cập xử lý là có cơ sở.

- Bà Phan Thị N là đại diện theo uỷ quyền của Công ty TNHH MTV T3 không yêu cầu bồi thường về dân sự, không có yêu cầu nhận lại các tài sản liên quan nên HĐXX không đề cập giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • + 01 (một) cái rựa dài 54cm; phần cán rựa dài 24cm, bằng gỗ, hình trụ tròn; phần lưỡi rựa bằng kim loại dài 30cm, chỗ rộng nhất 04cm (đã qua sử dụng).
  • + 01 (một) cái dao dài 41cm: phần cán dao dài 12cm, bằng gỗ, hình trụ tròn; phần lưỡi dao bằng kim loại dài 29cm, chỗ rộng nhất 06cm (đã qua sử dụng).
  • + 01 (một) cái mỏ lếch dài 30 cm, bằng kim loại, phần tay cầm có bọc nhựa màu đỏ, trên thân ở phần đầu mỏ lếch có đúc chữ số “300x36” (đã qua sử dụng).
  • + Nhiều đoạn dây cáp bằng kim loại bị cắt thành từng đoạn ngắn, chiều dài trung bình mỗi đoạn khoảng 70cm đến 90cm; trong đó một số đoạn cáp bị bóc vỏ nhựa bên ngoài, một số đoạn còn nguyên vỏ nhựa; tổng khối lượng 9.5kg.
  • + Nhiều đoạn vỏ nhựa được bóc tách từ dây cáp, tổng khối lượng 0.6kg.
  • + 01 (một) đoạn gỗ hình trụ tròn, dài 67cm, chu vi 27cm.
  • + 01 (một) tấm gỗ dài 103cm, rộng 21cm, dây 04cm.
  • + 01 (một) cái bao tải màu trắng, có sọc màu xanh;
  • + 05 (năm) kẹp IPC 120-120, bulon.
  • + 01 (một) khối nhựa bị đốt cháy màu đen, có hình đa diện lẫn tạp chất, khối lượng 19.5kg.

Là các vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn P1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 38, 55, 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

* Về trách nhiệm hình sự:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 12 (Mười hai) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt còn lại của Bản án số 75/2023/HS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc là 125 ngày cải tạo không giam giữ (được quy đổi 3 ngày cải tạo không giam giữ thành 01 ngày tù, tương đương với 42 ngày tù). Buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 13 (Mười ba) tháng 12 (Mười hai) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt chấp hành án.

Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, các Điều 38, 55, 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

* Về trách nhiệm hình sự:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P1 phạm tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P1 09 (Chín) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt còn lại của Bản án số 75/2023/HS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc là 217 ngày cải tạo không giam giữ (được quy đổi 3 ngày cải tạo không giam giữ thành 01 ngày tù, tương đương với 72 ngày tù). Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 11 (Mười một) tháng 12 (Mười hai) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt chấp hành án

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng sau:

  • + 01 (một) cái rựa dài 54cm; phần cán rựa dài 24cm, bằng gỗ, hình trụ tròn; phần lưỡi rựa bằng kim loại dài 30cm, chỗ rộng nhất 04cm (đã qua sử dụng).
  • + 01 (một) cái dao dài 41cm: phần cán dao dài 12cm, bằng gỗ, hình trụ tròn; phần lưỡi dao bằng kim loại dài 29cm, chỗ rộng nhất 06cm (đã qua sử dụng).
  • + 01 (một) cái mỏ lết dài 30 cm, bằng kim loại, phần tay cầm có bọc nhựa màu đỏ, trên thân ở phần đầu mỏ lết có đúc chữ số “300x36” (đã qua sử dụng).
  • + Nhiều đoạn dây cáp bằng kim loại bị cắt thành từng đoạn ngắn, chiều dài trung bình mỗi đoạn khoảng 70cm đến 90cm; trong đó một số đoạn cáp bị bóc vỏ nhựa bên ngoài, một số đoạn còn nguyên vỏ nhựa; tổng khối lượng 9.5kg.
  • + Nhiều đoạn vỏ nhựa được bóc tách từ dây cáp, tổng khối lượng 0.6kg.
  • + 01 (một) đoạn gỗ hình trụ tròn, dài 67cm, chu vi 27cm.
  • + 01 (một) tấm gỗ dài 103cm, rộng 21cm, dây 04cm.
  • + 01 (một) cái bao tải màu trắng, có sọc màu xanh;
  • + 05 (năm) kẹp IPC 120-120, bulon.
  • + 01 (một) khối nhựa bị đốt cháy màu đen, có hình đa diện lẫn tạp chất, khối lượng 19.5kg.

(Các vật chứng này hiện nay đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Lộc theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 28/10/2024).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn P1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo bản án sơ thẩm: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/12/2024); Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND huyện Đại Lộc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Đại Lộc;
  • - Cơ quan T.H.A HS Công an H. Đại Lộc;
  • - Bộ phận HSNV Công an huyện Đại Lộc;
  • - Chi cục T.H.A dân sự huyện Đại Lộc;
  • - Bị cáo, người liên quan;
  • - Lưu HS, án văn, T.H.A.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Tấn Nhựt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC, TỈNH QUẢNG NAM về vụ án hình sự

  • Số bản án: 69/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC, TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Phụng phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger