|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 69/2024/HS-PT Ngày: 05-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Cảnh
Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Mai Hương
Ông Mai Anh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Nhung - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa:
Bà Đinh Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 64/2024/HSPT-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Đỗ Duy C do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 82/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Bị cáo kháng cáo: Họ và tên: Đỗ Duy C; sinh ngày 30-10-1994 tại huyện G, tỉnh Nam Định; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nơi tạm trú trước khi bị bắt: Xóm G, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: tự do; học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; con ông Đỗ Công C1 (đã chết) và bà Trần Thị N; có vợ là Trần Thị N1 và có 01 con sinh năm 2018; tiền sự, tiền án: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13-01-2024; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N (Có mặt).
Trong vụ án còn các bị cáo nhưng không có kháng cáo kháng nghị gì.
- Trần Quốc T; sinh ngày 09-7-1998; nơi cư trú: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định;
- Trần Mỹ D; sinh ngày 16-4-2001; nơi đăng kí hộ khẩu thường trú: Tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; nơi đăng ký tạm trú: Tổ dân phố C, thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định.
- Y Nhì; sinh ngày 13-9-2004; nơi đăng kí thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kom Tum; nơi cư trú hiện nay: Tổ dân phố C, thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định.
- Trần Cao Đ; sinh ngày 27-9-1997; nơi cư trú: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định.
- Trần Văn P; sinh ngày 28-10-2002; nơi cư trú: Xóm T, G, G, Nam Định.
- Đỗ Quang T1; sinh ngày 19-7-1994; nơi cư trú: Xóm T, G, G, Nam Định.
- Hoàng Văn H; sinh ngày 09-6-1997; nơi cư trú: Xóm T, G, G, Nam Định.
- Người làm chứng: Chị Lừ Thị H1, chị Y K, chị Y P1 và chị Lương Thị K1. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 11-01-2024, Trần Quốc T dùng điện thoại nhắn tin và rủ Trần Cao Đ cùng sử dụng ma tuý, Đ đồng ý và thông tin cho Trần Văn P, Hoàng Văn H về việc T rủ sử dụng ma tuý nên P và H cũng đồng thuận tham gia. Sau đó, T tiếp tục rủ Đỗ Duy C cùng đi sử dụng ma tuý và hẹn Đ, T1, Học đợi tại quán B -a ở Xóm B xã G và được mọi người đồng ý. Khoảng 23 giờ cùng ngày, C gọi cho anh Trần Quốc T2 chạy xe taxi dịch vụ đón T, T1, Đ, H và P đi về thị trấn Q. Trên xe, C, T, Đ, H, T1 và P nói nhỏ và thống nhất là xuống quán K5, thị trấn Q hát và gọi nữ nhân viên hát đến cùng sử dụng ma tuý, mọi chi phí hết bao nhiêu tiền sẽ chia đều cho mọi người (Quá trình mọi người bàn nhau đi xuống Thị trấn Q sử dụng ma tuý, anh Trần Quốc T2 lái xe không biết). Sau đó C gọi điện cho chị Đinh Thị S là chủ quán S2 ở thị trấn Q quản lý nhân viên nữ phục vụ khách hát để thuê nhân viên ra hát cùng nhóm của C, chị S nói có 04 nhân viên thì C bảo “đi hết”. Khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày khi đến quán K5 ở Tổ dân phố C, thị trấn Q thì T, C, Đ, H, T1 và P đi vào gặp Phan Văn P2 là người quản lý quán K5. C hỏi thuê phòng và 02 nhân viên hát, Phan Văn P2 đồng ý và chỉ lên phòng Vip 5 tầng 2, sau khi mọi người lên phòng hát, C ở lại và hỏi P2 mua 01 chỉ Ketamine và 06 viên ma tuý tổng hợp (dạng kẹo), P2 đồng ý (Theo lời khai của C và mọi chi phí mua ma tuý và thuê phòng, nhân viên hát khi nào mọi người hát xong mới thanh toán). Khi vào phòng được 05 phút thì có Trần Mỹ D là nhân viên hát của quán K5 vào phòng ngồi, khoảng 10 phút sau đó có Lường Thị K2, Lừ Thị H1, Y K, Y P1 (sinh ngày 29-01-2007) là nhân viên của quán S2 V và Y N2 là nhân viên hát của quán V1 đi vào. Khoảng 15 phút sau, Phan Văn P2 cầm túi Ketamine và túi kẹo (ma tuý) lên phòng đưa cho C, C cầm vào trong phòng để trên mặt loa thùng trong phòng hát (Quá trình P2 bán và đưa ma tuý cho C chỉ có C và P2 biết, ngoài ra không có ai biết). Vào phòng hát, C lấy túi kẹo sử dụng một nửa viên, nửa viên còn lại C đưa cho D ngồi cạnh C sử dụng, còn 05 viên kẹo còn lại C cầm bẻ đôi từng viên và chia cho T, Đ, H, T1, P và một số nhân viên hát để sử dụng. Đ cầm túi K3 đưa cho Trần Mỹ D, D cầm đĩa sứ đã có sẵn trong phòng và bật lửa ra nhà vệ sinh hơ nóng đĩa mang vào và lấy túi Ketamine do Đ đưa rồi cho một ít Ketamine vào đĩa sứ dùng thẻ car điện thoại miết Ketamine cho mịn (xào ke); Y N2 sử dụng 01 tờ tiền polime mệnh giá 20.000 đồng cuộn làm ống hút. Sau khi sào xong Ketamine, D chia thành các đường nhỏ đưa cho từng người trong phòng dùng ống hút bằng tờ tiền 20.000 đồng để hít Ketamine. Khi sử dụng hết Ketamine trên đĩa thì Y N2 tiếp tục lấy Ketamine "xào ke" cho các đối tượng khác sử dụng nhưng Lương Thị K1 không sử dụng ma tuý. Khoảng 01 giờ 20 phút, ngày 13-01-2024 khi các đối tượng đang sử dụng ma túy thì bị Công an huyện G phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng, tài sản bị thu giữ gồm: 01 túi ni long bên trong có chứa các tinh thể màu trắng (được niêm phong ký hiệu M); 01 mẩu chất dạng viên nén màu vàng (được niêm phong ký hiệu M1); 01 mẫu chất bột tinh thể màu trắng thu trên mặt đĩa sứ hình tròn màu trắng, đường kính 29 cm (được niêm phong ký hiệu M2); 01 chiếc đĩa sứ hình tròn màu trắng đường kính 29 cm trên mặt đĩa có bám dính chất bột tinh thể màu trắng; 01 thẻ card sim điện thoại Vinaphone cả 02 mặt đều có bám dính chất bột màu trắng; 01 ống hút cuộn từ tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng được cố định 02 đầu bằng vỏ đầu lọc thuốc lá bên trong bám dính chất bột màu trắng (Được niêm phong ký hiệu M3); nhiều mảnh giấy vệ sinh bị đốt cháy dở; 01 bật lửa gas màu đỏ; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax và số tiền 2.340.000 đồng của Trần Quốc T; 01 điện thoại Nokia và số tiền 7.600.000 đồng của Đỗ Duy C; 01 điện thoại Iphone 14 Promax của Trần Cao Đ; số tiền 4.945.000 đồng của Trần Văn P. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ một số tài sản khác từ các đối tượng nhưng đã được trả lại cho chủ sở hữu.
Kết quả test nước tiểu đối với Trần Quốc T, Đỗ Duy C, Trần Mỹ D, Y N2, Trần Cao Đ, Trần Văn P, Đỗ Quang T1, Hoàng Văn H, Y K4, Y P1, Lừ Thị H1 và Lường Thị K2 của Trung tâm cai nghiện huyện G, xác định: Các đối tượng đều dương tính với chất ma túy tổng hợp, riêng Lương Thị K1 âm tính với chất ma túy tổng hợp.
Kết luận giám định số 305/KL-KTHS ngày 16-01-2024 của Phòng K6 - Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột màu trắng bám dính trong các vật dụng được niêm phong ký hiệu M, M2, M3 là ma túy, loại Ketamine, khối lượng M là: 1,054 gam, M2 là 0,177 gam, M3 khối lượng không xác định; Mẫu một phần viên nén màu vàng trong bì thư niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma tuý. Loại ma tuý: MDMA, khối lượng là 0,232 gam.
Với nội dung vụ án nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 82/2024/HS-ST ngày 26-9-2024 Toà án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định quyết định:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Quốc T, Đỗ Duy C, Trần Mỹ D, Y N2, Trần Cao Đ, Trần Văn P, Đỗ Quang T1 và Hoàng Văn H phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".
- Về hình phạt:
- Căn cứ vào các điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; xử phạt Trần Quốc T 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13-01-2024.
- Căn cứ vào các điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; xử phạt bị cáo Đỗ Duy C 07 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13-01-2024.
- Căn cứ vào các điểm b, c khoản 2 Điều 255; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 BLHS; xử phạt bị cáo Trần Mỹ D 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21-01-2024.
- Căn cứ vào các điểm b, c khoản 2 Điều 255; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 BLHS; xử phạt bị cáo Y N2 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21-01-2024.
- Căn cứ vào các điểm b, c khoản 2 Điều 255; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 BLHS; xử phạt bị cáo Trần Cao Đ 05 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13-01-2024.
- Căn cứ vào các điểm b, c khoản 2 Điều 255; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 BLHS; xử phạt bị cáo Trần Văn P 04 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13-01-2024.
- Căn cứ vào các điểm b, c khoản 2 Điều 255; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 BLHS; xử phạt bị cáo Đỗ Quang T1 04 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 13-01-2024.
- Căn cứ vào các điểm b, c khoản 2 Điều 255; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 BLHS; xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 04 năm tù; được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 13-01-2024 đến ngày 26-4-2024; thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.
Ngoài ra, Hội đồng xét xử còn quyết định xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04-10-2024 bị cáo Đỗ Duy C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với nội dung: Bị cáo có gia đình hoàn cảnh rất khó khăn, bố bị cáo đã chết, bị cáo là lao động chính trong gia đình và đang phải chăm sóc mẹ già thường xuyên đau ốm và nuôi con nhỏ, xin tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Đỗ Duy C vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị HĐXX xem xét, bị cáo lần đầu phạm tội, bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo đang rất khó khăn, con nhỏ. Bố mất sớm, mẹ đẻ bệnh tật, vợ bỏ nhà ra đi sau khi bị cáo phạm tội để lại con cho bà nội chăm sóc, bị cáo có thời gian tham gia công tác Đoàn tại điạ phương và đạt được nhiều thành tích. Ngoài ra gia đình có ông nội bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng II; nộp biên lai thu tiền là đã thi hành xong phần án phí sơ thẩm sau khi xét xử sơ thẩm. Xin HĐXX xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo sớm về đoàn tụ cùng gia đình và xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu quan điểm: Đơn kháng cáo của bị cáo Đỗ Duy C là hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Xét hành vi phạm tội của bị cáo nên cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan.
Về nội dung: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, quá trình điều tra và tại các phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại phiên tòa phúc thẩm, gia đình bị cáo xuất trình đơn có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bố mất sớm, mẹ đẻ bệnh tật, vợ bỏ nhà ra đi để lại con cho bà nội chăm sóc và bị cáo có thời gian tham gia công tác Đoàn tại địa phương. Ngoài ra gia đình còn nộp Giấy xác nhận của phòng nội vụ xác nhận ông nội bị cáo được tặng Huân chương kháng chiến hạng II; nộp biên lai thu tiền đã thi hành xong phần án phí sơ thẩm sau khi xét xử sơ thẩm. Đây là những tình tiết mới được phát sinh tại cấp phúc thẩm nên đề nghị HĐXX cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Do bị cáo C có nhiều tình tiết giảm nhẹ
quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS và thực hiện tội phạm với vai trò đồng phạm. Vì vậy, đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) chấp nhận kháng cáo của bị cáo sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm hình phạt cho bị cáo từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 BLTTHS; Các điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 BLHS; xử phạt bị cáo Đỗ Duy C từ 06 năm tù đến 06 năm 03 tháng tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Đỗ Duy C làm trong thời hạn luật định, được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Toà án cấp sơ thẩm trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có căn cứ xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng: Căn cứ vào lời khai của các các bị cáo, lời khai của người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án HĐXX có đủ cơ sở kết luận. Ngày 11-01-2024, Trần Quốc T là đối tượng khởi xướng, rủ rê các bị cáo Trần Cao Đ, Đỗ Duy C, Đỗ Quang T1, Trần Văn P và Hoàng Văn H đến quán K5, thị trấn Q và gọi nhân viên nữ đến để hát và cùng nhau sử dụng ma túy. Mọi chi phí các đối tượng thỏa thuận sẽ chia đều cho nhau. Như đã thỏa thuận, các đối tượng đã mua 01 chỉ Ketamine, 06 viên kẹo MDMA (ma túy tổng hợp dạng kẹo) đưa vào Phòng hát Vip5 của quán K5 để đưa cho mỗi người một nửa viên kẹo MDMA để sử dụng, trong số người sử dụng ma túy có Y P1 (sinh ngày 29-01-2007). Sau khi sử dụng xong kẹo MDMA, Trần Cao Đ cầm Ketamine đưa Trần Mỹ D và Y N2, D và N2 để K3 trên đĩa sứ được hơ nóng rồi miết cho mịn (xào ke), sử dụng 01 tờ tiền polime cuộn làm ống hút Ketamine đưa cho các đối tượng khác sử dụng và cùng sử dụng. Do vậy, hành vi này của Trần Quốc T, Đỗ Duy C, Trần Mỹ D, Y N2, Trần Cao Đ, Trần Văn P, Đỗ Quang T1 và Hoàng Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đối với 2 người trở lên và đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy xét xử các bị cáo Trần Quốc T, Đỗ Duy C, Trần Mỹ D, Y N2, Trần Cao Đ, Trần Văn P, Đỗ Quang T1 và Hoàng Văn H về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 BLHS là đúng người, đúng tội, không oan.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đỗ Duy C, HĐXX phúc thẩm xét thấy: Căn cứ tính chất mức độ và hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của từng bị cáo trong vụ án đã được cấp sơ thẩm xem xét đánh giá để xác định tính chất mức độ của từng bị cáo trong vụ án là có căn cứ. Mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo là tương đối phù hợp với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Đỗ Duy C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do bị cáo có gia đình hoàn cảnh rất khó khăn, bố bị cáo chết sớm, bị cáo là lao động chính trong gia đình và đang phải chăm sóc mẹ già thường xuyên đau ốm và nuôi con nhỏ. Tại phiên tòa phúc thẩm, gia đình bị cáo xuất trình đơn có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bố mất sớm, mẹ đẻ bệnh tật, vợ bỏ nhà ra đi để lại con cho bà nội chăm sóc và bị cáo có thời gian tham gia công tác Đoàn tại địa phương. Ngoài ra gia đình còn nộp Giấy xác nhận của phòng nội vụ xác nhận ông nội bị cáo được tặng Huân chương kháng chiến hạng II; nộp biên lai thu tiền đã thi hành xong phần án phí sơ thẩm sau khi xét xử sơ thẩm, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, đây là vụ án đồng phạm giản đơn, Trần Quốc T là đối tượng khởi xướng, rủ rê các đối tượng khác sử dụng ma túy nên giữ vai trò đầu vụ trong vụ án. Bị cáo Trần Cao Đ và Đỗ Duy C được T rủ cùng sử dụng ma túy, Đ đã thông tin cho Trần Văn P, Hoàng Văn H cùng sử dụng ma tuý và P và H cũng đồng thuận tham gia. Đỗ Duy C là người thực hiện hành vi mà trước đó đã được tất cả các đối tượng thỏa thuận, thống nhất trên xe nên C và Đ có vai trò tương đương. Tuy nhiên C thực hiện hành vi có phần tích cực hơn so với Đ. Các bị cáo khác trong vụ án đều có vị trí, vai trò không đáng kể. Do vậy cần áp dụng Điều 17; Điều 58 BLHS để áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo.
[4] Do bị cáo C khi thực hiện tội phạm với vai trò đồng phạm, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm sẽ áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS và khoản 1 Điều 54 BLHS, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cho bị cáo là thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo nhưng vẫn đáp ứng công tác phòng ngừa tội phạm trong tình hình hiện nay để bị cáo an tâm cải tạo tốt trở thành công dân có ích cho xã hội như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tại phiên tòa. Vì vậy, HĐXX phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Duy C, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt.
- Tuyên bố bị cáo Đỗ Duy C phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ vào các điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 54 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đỗ Duy C 06 (S1) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 13-01-2024.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 135 BLTTHS năm 2015 và Nghị Quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Đỗ Duy C không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Đức Cảnh |
Bản án số 69/2024/HS-PT ngày 05/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 69/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Duy C - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
