|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 69 /2024/HNGĐ-PT Ngày: 02/12/2024 V/v tranh chấp “Ly hôn, Chia tài sản chung, nợ chung” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thanh Nhàn |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Diệp Thúy |
| Bà Lê Thị Hồng Tâm | |
| - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bảo Trâm - | Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang. |
| - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên. | |
Ngày 28 tháng 11 và ngày 02 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số: 64/2024/TLPT-DS ngày 16 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp:“ Ly hôn, Chia tài sản chung, nợ chung”.
Do Bản án HNGĐ sơ thẩm số: 195/2024/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 526 /2024/QĐ-PT ngày 01 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Hoàng Q, sinh năm 1969 (Có mặt);
- Bị đơn: Bà Trần Thị Thu T, sinh năm 1978 (Có mặt);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Địa chỉ thường trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. (Địa chỉ liên lạc: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Phạm Ngọc D, Văn phòng L, Đoàn Luật sư tỉnh T (Có mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
3.1. Bà Tô Thị G, sinh năm 1968 (Có mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
3.2. Bà Nguyễn Thị Hải V, sinh năm 1974 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
3.3. Ông Lê Chí T1, sinh năm 1968 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Trần Hoàng Q; Bị đơn Trần Thị Thu T; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Tô Thị G, Nguyễn Thị Hải V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Ông Trần Hoàng Q và bà Trần Thị Thu T kết hôn vào năm 2003, có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo luật định tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang vào ngày 25/8/2003. Thời gian đầu ông, bà sống hạnh phúc đến năm 2019 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Ông bà đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không thành nên đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2023 cho đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt, nên ông Q yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Trần Thị Thu T.
Về con chung: Ông bà có một con chung tên Trần Ngọc Gia H, sinh ngày 15/6/2005, cháu H đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Trong quá trình sống chung vợ chồng có tạo lập các tài sản chung, nay ly hôn ông yêu cầu chia cụ thể như sau:
- Tài sản và Công trình xây dựng trên thửa đất số 1092, tờ bản đồ số 01, tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang: Cửa hàng xăng dầu Ngọc Gia H (gồm sân bê tông, mái che, nhà ở, gác suốt, nhà kho, cổng rào) giá trị theo chứng thư Thẩm định giá là 267.237.446 đồng; Thiết bị xăng dầu: gồm Trụ bơm điện tử 01 vòi bơm, Bồn chứa 5m³, Bồn chứa 12m³ giá trị là 198.543.333 đồng; Động sản: có giá trị là 53.051.334 đồng (gồm Máy lạnh Panasonic 12.156.000 đồng; Máy lạnh Sharp 3.397.800 đồng; Máy lạnh Fujitsu 2.294.667 đồng; Tivi Sony: 3.174.000 đồng; Máy giặt Toshiba 6.894.767 đồng; Tủ lạnh Sharp 10.334.100 đồng ; Tủ quần áo 14.800.000 đồng). Tổng giá trị tài sản là 518.832.113 đồng. Ông Q yêu cầu chia đôi, giao cho bà T sở hữu toàn bộ tài sản, ông xin nhận ½ giá trị là 259.416.000đồng.
- Thửa đất số 3342, tờ bản đồ số 2, tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang trị giá 245.804.520 đồng (Đất trồng cây lâu năm 115.546.600 đồng, Nhà kho 130.257.920 đồng). Ông Q yêu cầu chia đôi, giao bà T được quyền sở hữu, ông xin ½ nhận giá trị là 122.902.000 đồng.
- Thửa đất số 1738 và 1771, tờ bản đồ số 02, tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang diện tích 1.016,20 m² có giá trị là 7.430.519.60 đồng (đất ở nông thôn: 2.308.040.000 đồng, đất cây lâu năm 5.122.479.600 đồng), trong đó ½ là tài sản của vợ chồng ông và ½ là tài sản của bà Tô Thị G.
- Công trình xây dựng trên đất trị giá 603.815.324 đồng gồm: Nhà quản lý trị giá 151.486.464 đồng; Nhà nhân viên: 87.933.888 đồng; Nhà kho chứa xăng dầu 146.464.360 đồng; Nhà vệ sinh: 8.416.240 đồng; T2 gạch bao quanh: 38.236.800 đồng; Nền bê tông: 65.134.500 đồng; Mái che trụ bơm xăng: 89.799.360 đồng; Mái che phía trước kho xăng: 16.343.712 đồng;
- Cửa hàng X –Gia Hân trị giá 208.646.667 đồng gồm Thiết bị xăng dầu: Trụ bơm điện 1 vòi bơm: 135.310.000 đồng; Bồn chứa 10m³ 21.023.333 đồng; Bồn chứa 12m³ 23.823.333 đồng; Bồn chứa 16m² 28.490.000 đồng.
- Đối với tài sản là các xe ô tô và xe máy:
Ông Q yêu cầu chia đôi, giao bà T được quyền sở hữu, ông xin nhận ½ giá trị.
4.1. Xe ô tô nhãn hiệu Toyota Atis, BKS: 63A-050.44 trị giá 382.539.683 đồng, hiện nay Trần Thị Thu T quản lý, sử dụng, ông Q yêu cầu chia đôi, giao bà T được sở hữu, ông xin nhận ½ giá trị xe.
4.2. Xe máy nhãn hiệu Honda SH150I, BKS: 63B3-933.42 trị giá: 76.241.270 đồng, do Trần Thị Thu T đứng tên đăng ký, ông Q đang quản lý sử dụng, ông Q yêu cầu nhận xe hoàn ½ giá trị cho bà T.
4.3. Xe máy nhãn hiệu H2, BKS: 63B3-255.68 trị giá 11.269.841 đồng, do Trần Hoàng Q đứng tên đăng ký hiện bà Trần Thị Thu T quản lý, sử dụng. Ông Q yêu cầu nhận hiện vật, hoàn ½ giá trị cho bà T.
4.4. Xe máy nhãn hiệu H2, BKS: 63B3-124.68 trị giá 11.428.571 đồng. Hiện do bà Trần Thị Thu T quản lý, sử dụng, ông Q yêu cầu chia đôi, giao bà T sở hữu xe, ông Q nhận ½ giá trị.
4.5 Đối với tài sản chung là 30 gốc cây cảnh (Gồm: Cây mai vàng, cây mai chiếu thủy, cây sung, cây bông giấy, ông Q đồng ý giao toàn bộ số cây cảnh trên cho bà T và bà T hoàn lại cho ông Quân số tiền 20.000.000 đồng. Đã giao nhận xong nên ông Q không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Ông và bà T không có nợ chung. Việc bà T mượn số tiền 300.000.000 đồng của bà G mua xe và mượn của bà V 600.000.000đ thì ông không biết, ông chỉ có mặt khi mua xe. Ông cũng không biết việc bà T mượn tiền của bà V nên không đồng ý chia đôi số nợ.
* Ông Q tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu chia các tài sản: thửa đất số 263, tờ bản đồ số 02 diện tích 75m² và thửa 1370 tờ bản đồ số 02 diện tích 80m² tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Tiền tiết kiệm Trần Thị Thu T gửi tại Ngân hàng S - Chi nhánh tại Thị trấn T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Ngân hàng V1 - Chi nhánh tại Thị trấn T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Ngân hàng A - Chi nhánh C1 - Địa chỉ: Thị trấn T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Vàng trang sức: 01 sợi dây chuyền 1 lượng vàng 18k, 01 chiếc nhẫn 5 chỉ vàng 24k; Vốn lưu động khoảng 1 tỷ đồng (Gồm: Tiền mặt, nguyên nhiên liệu: Xăng, dầu, nhớt); Xe mô tô nhãn hiệu Honda Future X, biển kiểm soát 63B3-512.85 do Trần Hoàng Q đứng tên đăng ký, hiện Trần Thị Thu T quản lý, sử dụng, đồng ý cho cháu H nên xin rút lại yêu cầu chia; Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 6381-4085 do Trần Thị Thu T đứng tên đăng ký, hiện Trần Thị Thu T quản lý, sử dụng, Cửa hàng sữa của bà Tô Thị G.
* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn trình bày:
- Về hôn nhân: Bà Trần Thị Thu T thống nhất về thời gian sống chung, mâu thuẩn vợ chồng và thời gian ly thân như ông Q trình bày. Bà T đồng ý ly hôn với ông Q.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Ngọc Gia H, sinh ngày 15/6/2005, cháu H đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung:
+ Đối với các tài sản ông Q yêu cầu chia gồm:
- Tài sản và Công trình xây dựng trên thửa đất số 1092, tờ bản đồ số 01, tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang: Cửa hàng xăng dầu Ngọc Gia H (gồm sân bê tông, mái che, nhà ở, gác suốt, nhà kho, cổng rào) giá trị theo chứng thư Thẩm định giá là 267.237.446 đồng; Thiết bị xăng dầu: gồm Trụ bơm điện tử 01 vòi bơm, Bồn chứa 5m³, Bồn chứa 12m³ giá trị là 198.543.333 đồng; Động sản: có giá trị là 53.051.334 đồng (gồm Máy lạnh Panasonic 12.156.000 đồng; Máy lạnh Sharp 3.397.800 đồng; Máy lạnh Fujitsu 2.294.667 đồng; Tivi Sony: 3.174.000 đồng; Máy giặt Toshiba 6.894.767 đồng; Tủ lạnh Sharp 10.334.100 đồng ; Tủ quần áo 14.800.000 đồng). Tổng giá trị tài sản là 518.832.113 đồng.
- Đối với các thửa đất số 3342, tờ bản đồ số 2, diện tích 49,4m² tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, thửa đất này ông Q đã có văn bản thoả thuận phân chia tài sản giao cho bà được toàn quyền sử dụng và bà đã được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà T xác định đây là tài sản của riêng của bà nên bà không đồng ý chia theo yêu cầu của ông Q.
- Thửa đất số 1738 và 1771, tờ bản đồ số 02, tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang: diện tích 1.016,20 m² có giá trị là 7.430.519.60 đồng (đất ở nông thôn: 2.308.040.000 đồng, đất cây lâu năm 5.122.479.600 đồng). Tài sản là quyền sử dụng thửa đất này, bà Trần Thị Thu T và Tô Thị G cùng đứng tên quyền sử dụng; ông Q đã có văn bản thoả thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng, giao cho bà được toàn quyền sử dụng, định đoạt hai thửa đất này và bà đã được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà T xác định đây là tài sản của riêng của bà T với bà Tô Thị G. Bà không đồng ý chia cho ông Q ½ giá trị theo yêu cầu của ông Q.
- + Công trình xây dựng trên đất trị giá 603.815.324 đồng gồm: Nhà quản lý trị giá 151.486.464 đồng; Nhà nhân viên: 87.933.888 đồng; Nhà kho chứa xăng dầu 146.464.360 đồng; Nhà vệ sinh: 8.416.240 đồng; T2 gạch bao quanh: 38.236.800 đồng; Nền bê tông: 65.134.500 đồng; Mái che trụ bơm xăng: 89.799.360 đồng; Mái che phía trước kho xăng: 16.343.712 đồng;
- + Cửa hàng X –Gia Hân trị giá 208.646.667 đồng gồm các Thiết bị xăng dầu: Trụ bơm điện 1 vòi bơm: 135.310.000 đồng; Bồn chứa 10m³ 21.023.333 đồng; Bồn chứa 12m³ 23.823.333 đồng; Bồn chứa 16m² 28.490.000 đồng.
- Các tài sản khác gồm:
- + Đối với xe ô tô nhãn hiệu Toyota Corolla, BKS: 63A-050.44 trị giá 382.539.683 đồng, hiện nay bà Trần Thị Thu T quản lý, sử dụng, bà T đồng ý chia theo yêu cầu của ông Q, bà được quyền sở hữu xe và giao lại cho ông Q ½ giá trị là 191.269.841₫.
- + Đối với xe máy nhãn hiệu Honda SH150I, BKS: 63B3-933.42 trị giá: 76.241.270 đồng, do Trần Thị Thu T đứng tên đăng ký, ông Q đang quản lý sử dụng, bà T đồng ý để ông Q được quyền sở hữu xe, yêu cầu ông Q giao ½ giá trị cho bà T là 38.120.365₫.
- + Đối với xe máy nhãn hiệu Honda Future Fi, BKS: 63B3-255.68 trị giá 11.269.841 đồng, do Trần Hoàng Q đứng tên đăng ký. Bà T đồng ý để ông Q được quyền sở hữu xe, yêu cầu ông Q giao lại cho bà ½ giá trị xe là 5.634.920đ.
- + Đối với xe máy nhãn hiệu Honda Airblade Fi, BKS: 63B3-124.68 trị giá 11.428.571 đồng. Hiện do bà Trần Thị Thu T quản lý, sử dụng, bà T đồng ý để ông Q được quyên sở hữu xe và giao lại cho bà T ½ giá trị là 5.714.285₫.
- + Đối với tài sản chung là 30 gốc cây cảnh (Gồm: Cây mai vàng, cây mai chiếu thủy, cây xong, cây bông giấy ông Q đồng ý giao toàn bộ số cây cảnh trên cho bà T và bà T hoàn lại cho ông Quân số tiền 20.000.000 đồng. Đã giao nhận xong nên bà T không yêu cầu giải quyết.
- Đối với các các tài sản ông Q rút yêu cầu khởi kiện, bà T đồng ý.
Bà T đồng ý chia theo yêu cầu của ông Q, bà được quyền sở hữu toàn bộ tài sản và giao lại cho ông Q ½ giá trị là 259.416.056₫.
Đối với nhà kho xây dựng trên thửa 3342 có giá trị 130.257.920 đồng, bà T đồng ý chia theo yêu cầu của ông Q bà được quyền sở hữu nhà kho và giao lại cho ông Q ½ giá trị nhà kho là 65.128.960đ.
Đối với các tài sản trên các thửa đất số 1738 và 1771, tờ bản đồ số 02, tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang bao gồm:
Tổng cộng là 812.461.990đ. Bà T đồng ý chia theo yêu cầu của ông Q, bà được quyền sở hữu toàn bộ tài sản và giao lại cho ông Q ½ giá trị là 406.230.995₫.
* Theo đơn yêu cầu độc lập ngày 27/9/2023 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tô Thị G trình bày:
Ngày 25/4/2016, vợ chồng ông Q, bà T có mượn bà số tiền 300.000.000 đồng để mua chiếc xe ô tô Toyota Corolla, biển số 63A-05044 do bà T đứng tên, có làm giấy mượn tiền mua xe do bà T đại diện ký tên vì trong gia đình thì ông Q hay bà T ký cũng được nên bà không yêu cầu ông Q ký tên. Khi cho mượn tiền thì có mặt bà, bà T, ông Q và cháu H. Nay nếu ông Q và bà T chia tài sản chung là chiếc xe nêu trên thì ông Q, bà T phải trả cho bà số tiền 300.000.000 đồng đã mượn. Thực hiện ngay khi án có hiệu lực pháp luật, không yêu cầu tính lãi.
Đối với các thửa đất số 1771, 1738 bà cùng đứng tên quyền sử dụng đất với bà T nên có ½ là tài sản của bà và bà với bà T không có tranh chấp hai thửa đất này, việc quản lý, sử dụng bà tự thỏa thuận với bà T, nếu có tranh chấp bà sẽ khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác.
* Theo đơn yêu cầu độc lập ngày 27/9/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hải V trình bày:
Vào ngày 05/6/2022 bà V có cho bà Trần Thị Thu T mượn số tiền là 1 tỷ 600 triệu (Một tỷ sáu trăm triệu đồng). Khi mượn bà T cho biết do thiếu hụt về việc nhập xăng, dầu để kinh doanh. Thấy việc vợ, chồng bà T và ông Q kinh doanh xăng, dầu là có thật nên bà đồng ý cho mượn.
Việc mượn tiền hai bên có thống nhất thời hạn trả là 12 tháng kể từ ngày ký giấy nhận nợ (ngày 05/6/2022), lãi suất thỏa thuận 1%/ tháng. Đến ngày 06/6/2023 bà T có trả cho bà được 1 tỷ (Một tỷ) còn nợ lại 600.000.000₫ (sáu trăm triệu đồng) hẹn đến cuối năm 2023 trả hết.
Nay nếu ông Q và bà T ly hôn và chia tài sản chung. Bà yêu cầu ông Q, bà T có nghĩa vụ trả lại bà số tiền 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng) ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Bản án HNGĐ sơ thẩm số 195/2024/DS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
- Căn cứ các Điều 28,146, 217, 227, 228, 246, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các điều 55, 59, 62 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ các điều 357, 463, 465, 466, 468, 469, 470 Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ các Điều 26, 27của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Xử :
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn Trần Hoàng Q.
- Về tài sản chung:
- Về nợ chung:
- Về chi phí tố tụng: Buộc bà Trần Thị Thu T có nghĩa vụ trả cho ông Trần Hoàng Q 21.648.000 đồng.
- Về án phí:
- - Ông Trần Hoàng Q phải chịu 42.645.473đ án phí DSST, được trừ vào số tiền 56.033.500₫ ông Q đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0021828 ngày 05/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C. Hoàn trả lại cho ông Q 13.388.027₫.
- - Bà Trần Thị Thu T phải chịu 72.645.473đ án phí.
- - H1 lại cho bà Tô Thị G 7.500.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0011935 ngày 03/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C tỉnh Tiền Giang.
- - H1 lại cho bà Nguyễn Thị Hải V 15.000.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0011936 ngày 03/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C tỉnh Tiền Giang.
- - Ông Trần Hoàng Q không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. H1 lại cho ông Trần Hoàng Q số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0011727 ngày 13/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.
- - Bà Trần Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0011714 ngày 11/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.
- - Bà Tô Thị G phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0011715 ngày 11/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.
- - Bà Nguyễn Thị Hải V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0011716 ngày 11/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.
Ông Trần Hoàng Q được ly hôn với bà Trần Thị Thu T.
2.1/ Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Hoàng Q yêu cầu khởi kiện đối với thửa đất số 263, tờ bản đồ số 02 diện tích 75m² và thửa 1370 tờ bản đồ số 02 diện tích 80m² tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Tiền tiết kiệm Trần Thị Thu T gửi tại Ngân hàng S - Chi nhánh tại Thị trấn T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Ngân hàng V1 - Chi nhánh tại Thị trấn T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Ngân hàng A - Chi nhánh C1; Vàng trang sức: 01 sợi dây chuyền 1 lượng vàng 18k, 01 chiếc nhẫn 5 chỉ vàng 24k; Vốn lưu động khoảng 1 tỷ đồng (Gồm: Tiền mặt, nguyên nhiên liệu: Xăng, dầu, nhót); Xe mô tô nhãn hiệu Honda Future X, biển kiểm soát 63B3-512.85; Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 63B1-4085, Cửa hàng sữa của bà Tô Thị G.
2.2/ Ông Q được quyền sở hữu xe Honda SH150I biển kiểm soát 63B3-933.42, H2 biển kiểm soát 63B3-255.68.
Ông Q có nghĩa vụ trả cho bà T từ việc chia tài sản là 43.755.285₫ (Bốn mươi ba triệu bảy trăm năm mươi lăm ngàn hai trăm tám mươi lăm ngàn đồng).
2.3/ Bà T được quyền sở hữu các tài sản trên các thửa đất 3342, 1738, 1771, xe ô tô hiệu Toyota biển kiểm soát 63A-050.44, xe Honda Airblade Fi biển kiểm soát 63B3-124.68.
Bà T có nghĩa vụ trả ông Q từ việc chia tài sản là 927.760.137₫ (Chín trăm hai mươi bảy triệu bảy trăm sáu mươi ngàn một trăm ba mươi bảy đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Ông Trần Hoàng Q và bà Trần Thị Thu T có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký lại quyền kinh doanh và quyền sở hữu tài sản theo qui định của pháp luật.
3.1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tô Thị G.
Buộc ông Trần Hoàng Q có nghĩa vụ trả cho bà Tô Thị G số tiền 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng).
Buộc Bà Trần Thị Thu T có nghĩa vụ trả cho bà Tô Thị G số tiền 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
3.2/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hải V.
Buộc Bà Trần Thị Thu T có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Hải V số tiền 600.000.000₫ (Sáu trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
5.1. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông Trần Hoàng Q phải chịu 300.000₫, ông Q đã tạm nộp 300.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0021501 ngày 14/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, chuyển thành án phí hôn nhân sơ thẩm.
5.2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Nhàn |
Bản án số 69/2024/HNGĐ-PT ngày 02/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn, chia tài sản chung, nợ chung
- Số bản án: 69/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, Chia tài sản chung, nợ chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Trần Hoàng Q và bà Trần Thị Thu T kết hôn vào năm 2003, có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo luật định tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang vào ngày 25/8/2003. Thời gian đầu ông, bà sống hạnh phúc đến năm 2019 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Ông bà đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không thành nên đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2023 cho đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt, nên ông Q yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Trần Thị Thu T.
