TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 69/2024/HS-ST Ngày: 25/11/2024. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hồng Trường.
- - Các hội thẩm nhân dân:
- 1/. Ông Ngô Văn Tuyển.
- 2/. Ông Nguyễn Văn Hải.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hòa Bình.
Chức vụ: Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Thu Hương. Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 25/11/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2024/TLST-HS, ngày 07 tháng 11 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXHS-ST, ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hồ Minh H. Sinh năm 1990; Nơi sinh: Tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn 2, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Thợ sơn; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông (Không xác định được cha) và con bà Phạm Thị S, sinh năm 1958 (đã chết); Bị cáo có vợ là Bùi Thị N, sinh năm 1992 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Krông Pắc từ ngày 25/9/2024 đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, Nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Phạm Hữu N. Sinh năm: 1991.
Nơi cư trú: Thôn 5, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)
Bà Trần Thị L. Sinh năm: 1994
Nơi cư trú: Thôn 5, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
(Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người chứng kiến: Ông Hoàng Văn T. Sinh năm: 1986.
Nơi cư trú: Buôn E, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ sáng ngày 25/9/2024, Hồ Minh H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirus, màu đỏ - đen, biển số 47M1-268.95 đi đến khu vực Km68, thị trấn Ea Knốp, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, H gặp 01 người đàn ông đội mũ lưỡi trai, đeo khẩu trang (không rõ nhân thân lai lịch), H đến nói chuyện thì biết người đàn ông này có đem theo ma túy để bán. H hỏi mua 400.000 đồng ma túy, người đàn ông này đồng ý bán và đưa cho H 01 túi nylon trong suốt (dạng túi Zip) bên trong có chứa các chất rắn dạng tinh thể. H trả tiền rồi bỏ ma túy vào trong túi áo đang mặc trên người và điều khiển xe mô tô đi về nhà. Đến khoảng 05 giờ 50 phút cùng ngày, khi H đi về đến trước cổng nhà mình thuộc thôn 2, xã T, huyện K thì bị tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an huyện Krông Pắc kiểm tra, phát hiện trong túi áo bên phải H đang mặc có 01 túi nylon, bên trong có chứa các chất rắn dạng tinh thể (H khai là ma túy đá). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hồ Minh H về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đồng thời thu giữ niêm phong vật chứng để xử lý theo quy định.
Vật chứng thu giữ gồm có: 01 túi nylon trong suốt (dạng túi Zip) bên trong có chứa 0,5667 gam ma túy, loại Methamphetamine; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirus, màu đỏ - đen, biển số 47M1-268.95.
Tại kết luận giám định số 1577/KL-KTHS ngày 02/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn dạng tinh thể bên trong 01 (một) túi nylon trong suốt (dạng túi Zip) được niêm phong gửi giám định là Ma túy, có khối lượng: 0,5667gam, loại: Methamphetamine; Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,4897gam.
Tại bản cáo trạng số 71/CT-VKS-HS, ngày 06/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Hồ Minh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Hồ Minh H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Hồ Minh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hồ Minh H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Các biện pháp tư pháp:
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì, bên trong có 0,4897gam ma túy, loại Methamphetamine (Mẫu vật còn lại sau giám định) và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu.
Chấp nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Pắc trả lại cho ông Phạm Hữu N 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirus, màu đỏ - đen, biển số 47M1-268.95 là người sử dụng hợp pháp.
Bị cáo Hồ Minh H đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, không có ý kiến tranh luận gì.
Người có quyền lợi, N vụ liên quan đến vụ án ông Phạm Hữu N không có ý kiến tranh luận gì.
Tại phần lời nói sau cùng bị cáo Hồ Minh H đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Xét về thủ tục tố tụng: Các quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Pắc, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, thu thập chứng cứ vụ án đã thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn thực tế khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có lưu trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người chứng kiến. Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở pháp lý để chứng minh hành vi của bị cáo Hồ Minh H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
Vận dụng điều luật nêu trên, đối chiếu với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt sao cho thỏa đáng để vừa đề cao được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời qua đó giáo dục riêng đối với bản thân bị cáo, bên cạnh đó còn có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Xét tính chất, hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bỡi lẽ hành vi của bị cáo đã vi phạm pháp luật hình sự về tội phạm ma túy, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma túy, ngoài ra hành vi của bị cáo còn gây hoang mang, bất bình trong cộng đồng dân cư xung quanh, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn địa phương.
Xét về ý thức: Bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình, bị cáo nhận thức được rằng việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật. Song xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật, coi thường các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, truy tố và đưa ra xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Với hành vi nêu trên của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để trong quá trình giáo dục, cải tạo bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình, từ đó hoàn thiện lối sống để khi tái hòa nhập cộng đồng bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.
Tuy nhiên, xét về nhân thân: Bị cáo phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét trong quá trình lượng hình đối với bị cáo, thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật nhà nước ta đối với người phạm tội.
Quá trình điều tra xác định: Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirus, màu đỏ - đen, biển số 47M1-268.95, xe mô tô này H mượn của ông Phạm Hữu N, sinh năm 1991, trú tại thôn 5, xã T, huyện K để đi làm. Chiếc xe này đứng tên bà Trần Thị L trú tại thôn 5, xã T, huyện Krông Pắc. Tháng 05/2024 ông N, bà L ly hôn nhưng không yêu cầu Tòa án giải quyết về phần tài sản. Bà L đồng ý giao chiếc xe cho ông N quản lý, sử dụng. Ông N không biết việc H sử dụng xe mô tô trên để đi mua ma túy nên ngày 10/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Pắc đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô này cho ông Phạm Hữu N là người sử dụng hợp pháp.
[3] Các biện pháp tư pháp:
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì, bên trong có 0,4897gam ma túy, loại Methamphetamine (Mẫu vật còn lại sau giám định) và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/11/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Pắc và chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pắc).
Chấp nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Pắc trả lại cho ông Phạm Hữu N 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirus, màu đỏ - đen, biển số 47M1-268.95 là người sử dụng hợp pháp.
[4] Về án phí: Căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hồ Minh H thuộc trường hợp hộ nghèo nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Xét thấy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc truy tố bị cáo Hồ Minh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, mức đề nghị về hình phạt, về xử lý vật chứng là có căn cứ pháp lý. Tuy nhiên, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự với lý do bị cáo thuộc trường hợp hộ nghèo là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- - Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Hồ Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Hồ Minh H 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 25/9/2024.
Các biện pháp tư pháp:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì, bên trong có 0,4897gam ma túy, loại Methamphetamine (Mẫu vật còn lại sau giám định) và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/11/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Pắc và chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pắc).
Chấp nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Pắc trả lại cho ông Phạm Hữu N 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirus, màu đỏ - đen, biển số 47M1-268.95 là người sử dụng hợp pháp.
- Về án phí: Bị cáo Hồ Minh H thuộc trường hợp hộ nghèo nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (có mặt tại phiên tòa) được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (vắng mặt tại phiên tòa) được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Hồng Trường |
Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 69/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hồ Minh H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
