|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 69/2024/HS-ST Ngày: 18-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Quốc Xuân
- Ông Phạm Minh Tâm – Cán bộ Đoàn Thanh niên
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Quang - Kiểm sát viên
Trong ngày 18 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2024/HSST ngày 15 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 528/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Quang T, sinh năm 2001 tại tỉnh Đồng Tháp; Hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (Đã xóa đăng ký thường trú ngày 23/6/2023); Chỗ ở trước khi bị bắt: Không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 02/12; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Quang T1 và bà Huỳnh Thị Mộng T2; Vợ: Không; Con: Không.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C - T, Công an Thành phố H.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Em Lý Sà R, sinh năm 2008 (Vắng mặt)
- Ông Lý Đ, sinh năm 1969 (Vắng mặt)
- Bà Lâm Thị K, sinh năm 1970 (Vắng mặt)
- Ông Trần Văn S, sinh năm 1964 (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1987 (Vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp:
Cùng địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
Địa chỉ thường trú: Ấp M, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Địa chỉ: Không có nơi cư trú ổn định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ 15 phút ngày 14/4/2024, Tổ công tác 363 (Số B) Công an huyện N tuần tra đến trước nhà số A đường L, Ấp C, xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh thì tiến hành kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Quang T đang điều khiển xe mô tô biển số 72H3-0821 chở theo Lý Sà R. Qua kiếm tra, tổ tuần tra phát hiện bên trong túi áo khoác bên trái phía trước mà R đang mặc có 01 gói thuốc lá hiệu "YETT" bên trong có 01 gói nylon chứa chất rắn (R và T khai nhận là ma túy đá) nên đã tiến hành thu giữ, đưa R và T cùng vật chứng về trụ sở Công an xã N, huyện N để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Nguyễn Quang T khai nhận: Nguyễn Quang T và Lý Sà R ở gần nhà trọ với nhau và đã cùng nhau sử dụng ma túy đá từ năm 2023. Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 14/4/2024, R đến phòng trọ của T rủ T mỗi người hùn 100.000 đồng và cùng nhau đi mua ma túy đá về sử dụng thì T đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển số 72H3-0821 chở R đi mua ma túy. Trên đường đi, như thỏa thuận R đưa cho T 100.000 đồng để hùn tiền mua ma túy. Khi T điều khiển xe chở R đến gầm cầu ông L thuộc phường T, Quận G thì T gặp và mua của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 gói túy đá với giá tiền 200.000 đồng, người đàn ông đưa cho T 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu "YETT" bên trong có 01 gói ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, T đưa R cất giữ trong túi áo khoác bên trái phía trước mà R đang mặc rồi T điều khiển xe về nhà trọ ở xã P, huyện C, tỉnh Long An. Đến 16 giờ 45 phút cùng ngày, khi T điều khiển xe chở R đến trước nhà số A đường L, Ấp C, xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện và bắt giữ như nêu trên.
Tại Kết luận giám định số 4776/KL-KTHS ngày 23/4/2024 của Phòng K1 - Công an Thành phố H, kết luận: Chất rắn được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2584 gam, loại Mathamphetamine.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Quang T về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng số 57/CT-VKS-NB ngày 13 tháng 9 năm 2024 và sau khi phân tích, luận tội đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Quang T từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.
Về xử lý vật chứng:
- Tinh thể không màu có khối lượng 0,2077 gam được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra là vật cấm lưu hành nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.
- 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu YETT, đã qua sử dụng là vật không còn giá trị sử dụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.
- 01 cái áo khoác màu đen, thu giữ của Lý Sà R đã qua sử dụng là công cụ phương tiện phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, đã qua sử dụng thu giữ của Lý Sà R. Qua điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Lý Sà R, không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho Lý Sà R là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
- 01 chiếc xe môtô biển số 72H3-0821, số máy: 50FMG3-10669834, số khung: FN10010669834, đã qua sử dụng. Qua điều tra xác định xe do ông Trần Văn S đứng tên. Năm 2012, ông S bán cho một người không rõ nhân thân lai lịch nhưng không làm giấy tờ mua bán xe và thủ tục sang tên đổi chủ. Tháng 02/2024, bà Nguyễn Thị Tuyết M mua chiếc xe trên với giá 2.000.000 đồng từ một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch), không làm giấy tờ mua bán xe và thủ tục sang tên đổi chủ. Ngày 14/4/2024, T mượn bà M chiếc xe trên để đi công việc cá nhân, việc T sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy bà M hoàn toàn không biết. Do chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên đề nghị Hội đồng xét xử giao Cơ quan Thi hành án dân sự huyện N đăng báo tìm chủ sở hữu, hết hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
Về các vấn đề khác:
- Đối với Lý Sà R, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Lý Sà R chỉ mới 15 tuổi 06 tháng 06 ngày. Theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật Hình sự thì Lý Sà R không phải chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã bàn giao Lý Sà R cho Công an xã N, huyện N để xử lý hành chính theo quy định là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
- Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, do không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quang T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trong bản Cáo trạng; nội dung phân tích, luận tội của kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, đồng thời cho rằng mình không bị oan và trong lời nói sau cùng đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập với cộng đồng và làm người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án; Căn cứ vào các tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, thẩm quyền tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra công an huyện N và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố; bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quang T đã thừa nhận vì nghiện ma túy nên vào ngày 14/4/2024 sau khi mua được ma túy bị cáo đã đưa cho Lý Sà R (15 tuổi 06 tháng 06 ngày) cất giữ số ma túy có trọng lượng 0,2584 gam, loại Mathamphetamine để cùng nhau sử dụng dần.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 14/4/2024, phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Quang T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng “Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tệ nạn ma túy là hiểm họa và nỗi đau nhức nhối của toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm, làm suy thoái nòi giống, băng hoại đạo đức và ảnh hưởng đến phẩm giá con người. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ khả năng nhận thức được việc cất giữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, chống lại chủ trương bài trừ ma túy của Đ1 và Nhà nước nhưng vì nhu cầu nghiện hút, không làm chủ được bản thân và đặc biệt là xem thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội như đã nêu trên. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an chung.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, tương xứng mới có khả năng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, để răn đe riêng và phòng ngừa chung.
[3] Tuy nhiên: Xét tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, cũng không có tài sản và tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát cũng không đề nghị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tinh thể không màu có khối lượng 0,2077 gam được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra là vật cấm lưu hành xét tịch thu, tiêu hủy.
- 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu YETT, đã qua sử dụng là vật không còn giá trị sử dụng xét tịch thu, tiêu hủy.
- 01 cái áo khoác màu đen, thu giữ của Lý Sà R đã qua sử dụng là công cụ phương tiện phạm tội xét tịch thu, tiêu hủy.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, đã qua sử dụng thu giữ của Lý Sà R. Qua điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Lý Sà R, không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho Lý Sà R là có căn cứ.
- 01 chiếc xe môtô biển số 72H3-0821, số máy: 50FMG3-10669834, số khung: FN10010669834, đã qua sử dụng. Qua điều tra xác định xe do ông Trần Văn S đứng tên. Năm 2012, ông S bán cho một người không rõ nhân thân lai lịch nhưng không làm giấy tờ mua bán xe và thủ tục sang tên đổi chủ. Tháng 02/2024, bà Nguyễn Thị Tuyết M mua chiếc xe trên với giá 2.000.000 đồng từ một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch), không làm giấy tờ mua bán xe và thủ tục sang tên đổi chủ. Ngày 14/4/2024, T mượn bà M chiếc xe trên để đi công việc cá nhân, việc T sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy bà M hoàn toàn không biết. Giao Cơ quan Thi hành án dân sự huyện N đăng báo tìm chủ sở hữu, hết hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
[5] Về các vấn đề khác:
- Đối với Lý Sà R, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Lý Sà R chỉ mới 15 tuổi 06 tháng 06 ngày. Theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật Hình sự thì Lý Sà R không phải chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã bàn giao Lý Sà R cho Công an xã N, huyện N để xử lý hành chính theo quy định là có căn cứ.
- Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, do không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu, tiêu hủy: Tinh thể không màu có khối lượng 0,2077 gam được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra; 01 vỏ bao thuốc lá, nhãn hiệu YETT, đã qua sử dụng; 01 cái áo khoác màu đen, đã qua sử dụng.
- Giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển số 72H3-0821, số máy: 50FMG3-10669834, số khung: FN10010669834, đã qua sử dụng. Hết hạn 01 năm kể từ ngày Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè đăng báo mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;
- Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Quang T 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/4/2024.
(Theo phiếu nhập kho số 2024-NK065 ngày 20/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè).
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Long |
Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 69/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: XX
