|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2024/HS-ST
Ngày 15 - 11 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Hồ Xuân Dũng.
- 2/ Bà Trương Thị Hiệp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nguyệt Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Đồng Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2156/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thị Thúy H, sinh ngày 01/3/1993 tại T, Bình Định; Nơi cư trú: thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; Số Căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: nhặt phế liệu; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông không xác định và bà Lê Thị Dân S năm 1968 (chết); chồng: Đặng Văn Đ, sinh năm 1983; Con: có 03 người, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” vào ngày 18/7/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1993; Địa chỉ: thôn L, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Lê Thị Trúc L, sinh năm 1983; Địa chỉ: thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, có mặt.
- Anh Đàm Văn N, sinh năm 1983; Địa chỉ: thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, có mặt.
- Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1982; Địa chỉ: thôn H, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
- Anh Đặng Văn Đ, sinh năm 1983; Địa chỉ: thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 03/4/2024, bị cáo Lê Thị Thúy H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Naori, màu xanh gắn BKS 77X4 – 3363 kéo theo thùng tự chế từ nhà đi dạo thu mua phế liệu. Khi đến thôn T, xã N, thị xã A, H thấy công trình xây dựng nhà anh Nguyễn Văn T không có người trông coi nên nảy sinh ý định vào công trình tìm tài sản để trộm cắp. Bị cáo H dựng xe ngoài đường rồi lén lút vào bên trong lán trại cạnh nhà anh T, lấy 02 cuộn dây điện Cadivi CV2.5, 02 cuộn dây điện Cadivi CV1.5 và 01 cây băng keo điện đen N1 bỏ vào 01 bao tải màu xanh, đem ra để lên thùng tự chế rồi điều khiển xe mô tô chở đến xã P, huyện T tìm người bán. Trên đường đi, H gặp chị Lê Thị Trúc L đi mua phế liệu nên hỏi chị L có mua dây điện thì bị cáo H bán 04 cuộn dây điện do chồng làm xây dựng còn dư. Chị L đồng ý mua và trả cho H 1.000.000 đồng. Bị cáo H bỏ cây băng keo chung với 04 cuộn dây điện đưa cho chị L. Số tiền bán được tài sản, H tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 24/6/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã A kết luận: 02 cuộn dây điện Cadivi CV2.5 tại thời điểm bị xâm phạm có trị giá 1.700.000 đồng; 02 cuộn dây điện Cadivi CV1.5 tại thời điểm bị xâm phạm có trị giá 1.100.000 đồng; 01 cây băng keo điện đen N1 tại thời điểm bị xâm phạm có trị giá 10.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 58/CT-VKSAN ngày 30 tháng 9 năm 2024 Viện Kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn truy tố bị cáo Lê Thị Thúy H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn giữ nguyên truy tố đối với bị cáo Lê Thị Thúy H. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Lê Thị Thúy H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị Thúy H từ 12(mười hai) đến 15(mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo H.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, bị hại đã thỏa thuận giải quyết xong nên miễn xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Naori, màu xanh gắn BKS 77X4 – 3363, số khung 4UM-005019, số máy FMH-4C405025 của bị cáo Lê Thị Thúy H (kèm theo 01 đăng ký xe mô tô số 0117437, cấp ngày 17/01/2005);
- - Tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 bao tải màu xanh, 01 mũ bảo hiểm màu trắng đã qua sử dụng.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo. Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Tại phiên tòa, người bị hại anh Nguyễn Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H1 vắng mặt. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố họ đã cung cấp lời khai và yêu cầu. Xét, sự vắng mặt của họ không làm trở ngại cho việc xét xử vụ án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[3] Qua tranh tụng công khai tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đủ căn cứ để xác định: Vì muốn có tiền tiêu xài nên ngày 03/4/2024, tại nhà ở đang xây dựng của anh Nguyễn Văn T ở thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, Lê Thị Thúy H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 04 cuộn dây điện Cadivi và 01 cây băng keo điện có tổng trị giá 2.810.000 đồng rồi đem bán cho Lê Thị Trúc L thu được số tiền 1.000.000 đồng dùng tiêu xài cá nhân hết. Do đó, Cáo trạng và lời luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo Lê Thị Thúy H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Là công dân đã trưởng thành, có đủ năng lực điều khiển hành vi, ý thức được tài sản hợp pháp của người khác luôn được Nhà nước và pháp luật quan tâm bảo vệ. Bộ luật Hình sự cũng đã quy định những chế tài nghiêm khắc để nhằm xử lý, nghiêm trị những ai có hành vi xâm hại. Nhưng với bản tính tham lam, muốn hưởng lợi trên thành quả lao động của người khác, bị cáo Lê Thị Thúy H lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác trong việc quản lý tài sản của bị hại mà lén lút chiếm đoạt tài sản của họ. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, nên cần xử lý bằng pháp luật hình sự.
[5] Bị cáo Lê Thị Thúy H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện bồi thường cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Bị cáo có nhân thân tốt, đang nuôi 03 con nhỏ, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nơi cư trú ổn định và có khả năng tự cải tạo nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng đủ giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[7] Về khấu trừ thu nhập: Theo khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự thì trong thời gian chấp hành án, người bị phạt cải tạo không giam giữ bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước vào hằng tháng. Xét, bị cáo Lê Thị Thúy H đi nhặt phế liệu, thu nhập không ổn định, nên Hội đồng xét xử cho miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 2.810.000 đồng, bị hại không có yêu cầu gì khác nên miễn xét.
[9] Về xử lý vật chứng:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Naori, màu xanh gắn BKS 77X4 – 3363, số khung 4UM-005019, số máy FMH-4C405025, có đăng ký xe mô tô số 0117437 ngày 17/01/2005 là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, nộp ngân sách nhà nước. Nếu anh Đặng Văn Đ (chồng của bị cáo) có tranh chấp về quyền sở hữu hoặc yêu cầu bồi thường phần giá trị xe mô tô thì giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
- - 01 bao tải màu xanh, 01 mũ bảo hiểm màu trắng đã qua sử dụng là công cụ, đồ vật sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy.
- - 01 rơ mooc (thùng tự chế) khung sắt, bị cáo mượn của bà Nguyễn Thị H1, bà H1 không biết bị cáo mượn để đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà H1 là phù hợp.
[10] Chị Lê Thị Trúc L là người đã mua 04 cuộn dây điện và 01 cây băng keo điện, nhưng khi mua chị L không biết số tài sản trên là do Lê Thị Thúy H phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự với chị L là phù hợp.
[11] Ngoài lần thực hiện hành vi phạm tội trên, ngày 23/02/2024, bị cáo H còn lén lút chiếm đoạt 02 cuộn lưới B40, có trị giá 1.800.000 đồng của ông Trần Văn T1 (sinh năm 1970, trú tại thôn T, xã N); ngày 29/4/2024, lén lút chiếm đoạt 01 máy tời điện, có trị giá 1.500.000 đồng của ông Phan Thái H2 (sinh năm 1974, trú tại thôn T, xã N), chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo Lê Thị Thúy H.
[12] Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Thị Thúy H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự 2015;
Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự về xử lý vật chứng;
Căn cứ các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thị Thúy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Thị Thúy H 12(mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Bình Định nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao người bị kết án cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Lê Thị Thúy H vì bị cáo không có thu nhập ổn định.
- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, không có yêu cầu gì khác nên miễn xét.
- Xử lý vật chứng:
- - Tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Naori, màu xanh gắn BKS 77X4 – 3363, số khung 4UM-005019, số máy FMH-4C405025 (kèm theo 01 đăng ký xe mô tô số 0117437, cấp ngày 17/01/2005);
- - Tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 bao tải màu xanh, 01 mũ bảo hiểm màu trắng đã qua sử dụng;
- (Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án thị xã An Nhơn theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/10/2024)
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Thị Thúy H phải chịu 200.000(hai trăm nghìn) đồng.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ái Phượng |
7
Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 69/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Thúy H phạm tội Trộm cắp tài sản
