Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ÂN THI

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 69/2024/HS-ST
Ngày 14 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Thủy

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Chử và Ông Đào Văn Thao

- Thư ký phiên tòa: Ông Chu Minh Khôi - Thư ký TAND huyện Ân Thi

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi tham gia phiên toà:

Ông Đỗ Văn Tú - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Ân Thi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 69/2024/QĐXXST-HS ngày 01/11/2024 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Đình T Sinh năm 1990 Giới tính: Nam

Nơi sinh, nơi cư trú: thôn Bùi Xá, xã Nhân Quyền, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương

Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Lao động tự do Trình độ học vấn: 9/12

Bố đẻ: Nguyễn Đình S, sinh năm 1956 Nghề nghiệp: Trồng trọt

Mẹ đẻ: Hoàng Thị H, sinh năm 1959 Nghề nghiệp: Trồng trọt

Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba

Vợ: Vũ Thị N, sinh năm 1988 Nghề nghiệp: Lao động tự do

Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2023

Tiền án: Không

Tiền sự: Ngày 22/3/2024, bị Công an huyện B, tỉnh Hải Dương ra Quyết định số 35 xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.500.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Nhân thân: Tại Bản án số 177/2016/HSST ngày 16/5/2016 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 26 tháng tù, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo Nguyễn Đình T bị bắt, tạm giữ từ ngày 22/6/2024, chuyển tạm giam ngày 28/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H (có mặt tại phiên tòa).

- Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Huy L, sinh năm 1968 (Vắng mặt)
  2. Ông Trần Văn V, sinh năm 1965 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện chất ma tuý nên khoảng 10 giờ ngày 22/6/2024, Nguyễn Đình T đi nhờ xe của một người đi đường không rõ tên và địa chỉ đến khu vực thôn C, xã Đ, huyện  tìm mua ma tuý để sử dụng. Tại đây, T gặp một người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ, trông giống người nghiện nên đi lại gần hỏi mua 300.000 đồng ma túy, loại Methamphetamine. Người đàn ông này đồng ý đưa cho T 01 gói nilon màu trắng có viền mở màu đỏ, bên trong có chứa chất dạng tinh thể màu trắng, T biết là Methamphetamine nên cầm trong lòng bàn tay bên trái rồi đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, T đang đi trên đoạn đường bê tông thuộc thôn C, xã Đ thì bị Tổ công tác Công an huyện  và Công an xã Đ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn thấy T có biểu hiện nghi vấn, nên đã yêu cầu dừng lại kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện tại lòng bàn tay bên trái của T đang cầm 01 gói nilon màu trắng có viền mép mở màu đỏ, bên trong có chứa chất dạng tinh thể màu trắng, T khai nhận là Methamphetamine mua về để sử dụng. Công an huyện  đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ của T 01 gói nilon màu trắng có viền mép mở màu đỏ có kích thước (1,5 x 02)cm, bên trong có chứa chất dạng tinh thể màu trắng, được niêm phong trong bì thư ghi ký hiệu (I).

Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 22/6/2024 đối với Nguyễn Đình T, kết quả xét nghiệm: Dương tính với chất ma túy.

Bản Kết luận giám định số 477/KL-KTHS (MT) ngày 25/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu (I), có khối lượng là: 0,137g (Không phẩy một ba bẩy gam), là ma tuý, loại Methamphetamine. H1 lại sau giám định một phong bì niêm phong ghi số 477/KL-KTHS (MT), bên trong chứa 0,132g (Không phẩy một ba hai gam) ma tuý, loại Methamphetamine, 01 (Một) túi nilon và 01 (Một) vỏ phong bì.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Đình T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Về vật chứng của vụ án: 0,132g Methamphetamine, 01 túi nilon và 01 vỏ phong bì do Phòng K Công an tỉnh H hoàn lại sau giám định trong niêm phong ghi số 477/KL-KTHS (MT) hiện đang được quản lý tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ân Thi chờ xử lý.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo T, bị cáo T khai không biết tên, địa chỉ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện  đã xác minh nhưng không đủ căn cứ xác định là ai nên tiếp tục tổ chức điều tra xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Tại bản Cáo trạng số 67/CT-VKSAT ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình T về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Đình T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng số 67/CT-VKSAT ngày 02/10/2024. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về tội danh: Đề nghị tuyên xử bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;
  • Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 22/6/2024.
  • Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu huỷ: 0,132g Methamphetamine, 01 túi nilon và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định trong niêm phong hoàn lại mẫu vật gửi giám định.
  • Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Â; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản hỏi cung bị can, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh H và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện  đã thu thập được nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 22/6/2024, tại đoạn đường bê tông thuộc thôn C, xã Đ, huyện Â. Nguyễn Đình T đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 01 gói ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,137g để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy nói chung và Methamphetamine nói riêng. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Hiện nay, các tội phạm về ma túy là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng rất lớn đến tình hình an ninh trật tự xã hội. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử nghiêm minh là cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Đình T đã cấu thành Tội tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử còn xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để áp dụng hình phạt tương xứng.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và hình phạt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối chiếu với các quy định của pháp luật, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân rất xấu, đã bị Công an xử phạt vi phạm hành chính và bị Tòa án kết án về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục phạm tội nghiêm trọng điều đó chứng tỏ bị cáo rất coi thường pháp luật. Vì vậy ở lần phạm tội này cần thiết phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản chung, riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Methamphetamine là mặt hàng cấm, nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy được hoàn lại sau giám định của Phòng K – Công an tỉnh H trong 01 phong bì niêm phong ghi số 477/KL-KTHS (MT) sau giám định gồm: 0,132g Methamphetamine, 01 túi nilon và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

[5] Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2024.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy 0,132g Methamphetamine, 01 túi nilon và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định trong phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số 477/KL-KTHS(MT) của Phòng K Công an tỉnh H.

(Đặc điểm chi tiết các vật chứng được thể hiện theo Quyết định chuyển vật chứng số 62/QĐ-VKSAT ngày 02/10/2024 của VKSND huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên và được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ân Thi theo Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 16/10/2024).

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đình T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND huyện Ân Thi;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Ân Thi;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên ;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Ân Thi;
  • - Chi cục THADS huyện Ân Thi;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lương Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 69/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình T - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger