Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST.

Ngày 13/11/2024.

V/v “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Ngọc Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Hòa;

2. Ông Hoàng Văn Ngân;

Thư ký phiên toà: Ông Vũ Anh Tùng – Thư ký, Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng Liễu – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 172/2024/TLST–HNGĐ, ngày 16 tháng 8 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST–HNGĐ, ngày 15 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 48/2024/QÐST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị M – Sinh năm 1970.

Địa chỉ: Số nhà E, đường N, tổ C, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai, (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Đỗ Thành C – Sinh năm 1967.

Địa chỉ: Số nhà E, đường N, tổ C, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai, (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện nộp ngày 09 tháng 8 năm 2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị M trình bầy: Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị M và ông Đỗ Thành C đăng ký kết hôn ngày 22/02/1989 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, thị xã L, tỉnh Hoàng Liên Sơn (Nay là thành phố L, tỉnh Lào Cai) trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, bà Phạm Thị M và ông Đỗ Thành C chung sống đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do ông Đỗ Thành C sử dụng ma tuý và sử dụng rượu xúc phạm bà Phạm Thị M, vợ chồng thường xuyên xảy ra việc đánh, cãi nhau. Ông Đỗ Thành C không quan tâm đến gia đình, gây khó khăn cho bà Phạm Thị M trong việc phát triển kinh tế. Đến nay, bà Phạm Thị M xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, bà Phạm Thị M đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đỗ Thành C để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Bà Phạm Thị M và ông Đỗ Thành C có 02 con chung là anh Đỗ Xuân T - Sinh ngày 01/10/1989 và anh Đỗ Văn T1 – Sinh ngày 13/01/1992. Đến nay các con chung đã trưởng thành và đã có gia đình riêng nên khi ly hôn, bà Phạm Thị M không yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giải quyết về việc nuôi con chung.

Về tài sản và nghĩa vụ về tài sản chung: Bà Phạm Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong biên bản ghi khai ngày 04/9/2024, bị đơn ông Đỗ Thành C trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Ông Đỗ Thành C thừa nhận việc ông và bà Phạm Thị M tự nguyện kết hôn, thời điểm kết hôn và nơi kết hôn như bà Phạm Thị M trình bầy là đúng. Ông Đỗ Thành C xác định, trong quá trình chung sống, ông Đỗ Thành C và bà Phạm Thị M có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Đỗ Thành C và bà Phạm Thị M bất đồng quan điểm, dẫn đến vợ chồng thường xuyên đánh cãi nhau, xúc phạm lẫn nhau. Ông Đỗ Thành C thừa nhận ông có sử dụng ma tuý và hay uống rượu, ông và bà Phạm Thị M đã sống ly thân, mỗi người ở riêng một phòng. Bà Phạm Thị M xin ly hôn, ông Đỗ Thành C không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Ông Đỗ Thành C xác định ông và bà Phạm Thị M có 02 con chung như bà Phạm Thị M trình bầy là đúng. Đến nay các con chung đã trưởng thành và đã có gia đình riêng nên ông Đỗ Thành C không yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giải quyết về việc nuôi con chung.

Về tài sản và nghĩa vụ về tài sản chung: Ông Đỗ Thành C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi viết nội dung tự khai vào ngày 04/9/2024 ông Đỗ Thành C không chấp hành việc triệu tập có mặt tại Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, để cung cấp tài liệu chứng cứ. Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Đỗ Thành C theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Đỗ Thành C vắng mặt tại phiên tòa vào các ngày 05/11/2024 và ngày 13/11/2024 không có lý do. Do đó, việc giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xem xét trên cơ sở tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập.

Tại phiên toà nguyên đơn bà Phạm Thị M giữ nguyên nội dung khởi kiện về việc xin ly hôn với ông Đỗ Thành C.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, tham gia phiên toà, phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng tại phiên toà là đúng theo các quy định của pháp luật, đảm bảo đúng trình tự luật định, không vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ đảm bảo đúng pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng khoản 4, Điều 147; điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Về hôn nhân: Đề nghị xử cho bà Phạm Thị M được ly hôn với ông Đỗ Thành C.

Ngoài ra còn đề nghị tuyên nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn ông Đỗ Thành C đã được Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có yêu cầu phản tố. Căn cứ vào điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã xác định: Bà Phạm Thị M và ông Đỗ Thành C đăng ký kết hôn ngày 22/02/1989 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, thị xã L, tỉnh Hoàng Liên Sơn (Nay là thành phố L, tỉnh Lào Cai). Trong quá trình chung sống, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do trong quá trình chung sống ông Đỗ Thành C sử dụng ma tuý và sử dụng rượu, vợ chồng thường xuyên xảy ra việc đánh, cãi nhau, thiếu sự tôn trọng nhau. Tại biên bản xác minh ngày 19/9/2024 người làm chứng đã xác định: Trong cuộc sống hàng ngày ông Đỗ Thành C luôn trong tình trạng say rượu, thường xuyên đánh đuôi xúc phạm bà Phạm Thị M. Điều này, chứng minh hôn nhân của bà Phạm Thị M và ông Đỗ Thành C lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn chung sống cùng nhau. Bà Phạm Thị M xin ly hôn với ông Đỗ Thành C là có căn cứ phù hợp với quy định của Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, do đó được chấp nhận.
  3. Về con chung: Bà Phạm Thị M và ông Đỗ Thành C có 02 con chung. Đến nay các con chung đã trưởng thành và đã có gia đình riêng nên bà Phạm Thị M và ông Đỗ Thành C không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử xét không xem xét giải quyết.
  4. Về tài sản chung và quyền, nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Phạm Thị M và Ông Đỗ Thành C không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: Bà Phạm Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4, Điều 147; điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phạm Thị M và ông Đỗ Thành C. Quan hệ hôn nhân của bà Phạm Thị M và ông Đỗ Thành C chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về án phí: Bà Phạm Thị M phải chịu 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000694 ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn bà Phạm Thị M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông Đỗ Thành C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND thành phố Lào Cai (02);
  • - THADS thành phố Lào Cai;
  • - UBND xã Đồng Tuyển;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Ngọc Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 13/11/2024 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai về ly hôn

  • Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị M-Đỗ Thành C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger