Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST
Ngày 30-9-2024
V/v không công nhận
quan hệ vợ chồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Mai

Bà Hà Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa: Ông Bùi Tuấn Ngọc – Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 109/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 06 năm 2024 về tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 858/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 902/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13/9/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị H; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số D đường T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số E đường T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Hà Mạnh H1; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số D đường T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số E đường T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 06 năm 2024, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trương Thị H trình bày:

Chị Trương Thị H và anh Hà Mạnh H1 chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1994, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán nhưng không đăng ký kết hôn. Đến nay có 02 con chung.

Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2023 do tính cách quan điểm sống không phù hợp với nhau nữa dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Hai bên gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Hiện tại hai anh chị đã sống ly thân không còn quan tâm đến cuộc sống riêng của nhau. Nay chị H đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận chị và anh Hà Mạnh H1 là vợ chồng.

Về con chung: Chị H và anh H1 có 02 con chung là Hà Anh T, sinh ngày 17/5/1996 (đã thành niên đủ 18 tuổi) và Hà Hoàng M sinh ngày 06/07/2010. Chị H xin được trực tiếp nuôi cháu Hà Hoàng M đến khi trưởng thành. Việc cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác cho anh H1, anh H1 đã nhận được nhưng không đến Tòa án làm việc và không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị H, không cung cấp chứng cứ, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.

Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ đối với đại diện chính quyền địa phương nơi chị H và anh H1 đang chung sống và đại diện gia đình chị H, được biết: Chị Trương Thị H và anh Hà Mạnh H1 hiện đang sinh sống tại số E T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng. Cuộc sống vợ chồng anh H1 chị H đã mâu thuẫn từ lâu và đỉnh điểm vào năm 2023, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân nhau. Nay chị H xin ly hôn đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung và tài sản chung đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên tham gia phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về trình tự thủ tục về pháp luật tố tụng tại phiên tòa; các đương sự chấp hành đúng các quy định về pháp luật tố tụng.

Về nội dung vụ án: Chị Trương Thị H và anh Hà Mạnh H1 chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1994 nhưng đến nay không đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Do vậy, đến nay chị H xác định tình cảm không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng và đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn thì cần xem xét giải quyết không công nhận chị Trương Thị H và anh Hà Mạnh H1 là vợ chồng.

Về con chung: Chị H và anh H1 có 02 con chung là Hà Anh T sinh ngày 17/5/1996 đã thành niên nên không xét và Hà Hoàng M sinh ngày 06/07/2010 đề nghị giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi. Chị H không yêu cầu về việc cấp dưỡng nên không giải quyết.

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

Về án phí: Chị Trương Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Theo đơn khởi kiện không công nhận quan hệ vợ chồng cũng như tài liệu có trong hồ sơ thể hiện anh Hà Mạnh H1 đăng ký thường trú tại: Số E đường T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

[2] Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trương Thị H có mặt, bị đơn là anh Hà Mạnh H1 vắng mặt nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Hà Mạnh H1.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H1 tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1994 nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền mặc dù hai bên có đủ điều kiện kết hôn nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.

[4] Quá trình chung sống hai bên phát sinh mâu thuẫn từ năm 2023 do tính cách, quan điểm sống không phù hợp nhau nữa dẫn đến thường xuyền cãi vã. Căn cứ khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận yêu cầu của chị H và tuyên bố không công nhận chị Trương Thị H và anh Hà Mạnh H1 là vợ chồng.

[5] Về nuôi con chung: Chị H và anh H1 có 02 con chung là Hà Anh T sinh ngày 17/5/1996 đã thành niên đủ 18 tuổi nên không xét và Hà Hoàng M sinh ngày 06/07/2010. Chị H có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi con Hà Hoàng M đến khi con thành niên đủ 18 tuổi. Mặt khác, anh H1 không có ý kiến gì thể hiện quan điểm về việc nuôi con gửi cho tòa án. Vì vậy việc chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế, phù hợp với nguyện vọng của con, phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận. Việc cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu nên Toà án không xét.

[6] Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Chị Trương Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Trương Thị H và anh Hà Mạnh H1.

2. Về nuôi con chung: Vợ chồng có hai con chung là Hà Anh T sinh ngày 17/5/1996 (đã thành niên đủ 18 tuổi) và Hà Hoàng M sinh ngày 06/07/2010. Giao con chung là Hà Hoàng M cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Trương Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền trên chị H đã nộp đủ tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0003352 ngày 14 tháng 06 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- VKSND Quận Lê Chân;

- Chi cục THA dân sự Quận Lê Chân;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về không công nhận quan hệ vợ chồng

  • Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger