|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20-9-2024
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Hồng;
- Ông Đỗ Thiết Lập.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 312/2024/TLST-HNGĐ, ngày 02 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Hồng N, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ G, ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
Bị đơn: Anh Lâm Khắc V, sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ E, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 02 tháng 7 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phạm Hồng N trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Lâm Khắc V sống chung với nhau từ năm 2009, nhưng đến năm 2010 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Hôn nhân tự nguyện, không ai ép buộc. Trong quá trình chung sống, chị và anh V sống chung với nhau tại ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Tuy nhiên, từ khoảng năm 2011, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh V và mẹ ruột của chị có lời qua tiếng lại nên anh V bỏ về nhà mẹ ruột sinh sống tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh từ năm 2011 cho đến nay. Vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện với nhau nhưng không thể hàn gắn gia đình. Thời gian ly thân đã lâu, khoảng hơn 10 năm nay nên tình cảm cũng nhạt dần. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh V.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lâm Phạm Gia B, sinh ngày 29-10-2010. Hiện tại cháu B đang sống chung với chị. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc và giáo dục cháu B và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Lâm Khắc V nhưng anh Lâm Khắc V vắng mặt không có lý do nên không thể tiến hành làm việc lấy lời khai, hòa giải theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Chị Phạm Hồng N vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Anh Lâm Khắc V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã tuân thủ theo trình tự thủ tục, thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, không xảy ra vi phạm về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với anh Lâm Khắc V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử vắng mặt anh Lâm Khắc V là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Hồng N đối với anh Lâm Khắc V.
- Về nuôi con chung: Giao 01 con chung tên Lâm Phạm Gia B, sinh ngày 29-10-2010 cho chị Phạm Hồng N được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ghi nhận chị Phạm Hồng N không yêu cầu anh Lâm Khắc V cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, anh Lâm Khắc V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận chị Phạm Hồng N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Phạm Hồng N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Phạm Hồng N là nguyên đơn, trong vụ án, vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị vắng mặt. Anh Lâm Khắc V là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị Phạm Hồng N và anh Lâm Khắc V.
[2] Về hôn nhân: Chị Phạm Hồng N và anh Lâm Khắc V tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2010 và có đăng ký kết hôn ngày 19-10-2010 theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử nhận định đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Hồng N thấy rằng: Chị Phạm Hồng N trình bày vợ chồng trong thời gian sống chung không cùng quan điểm sống, không có tiếng nói chung và xảy ra nhiều mâu thuẫn với nhau, vợ chồng đã ly thân hơn 10 năm. Trong suốt thời gian ly thân, vợ chồng cũng không có tiếng nói chung để cùng giải quyết mâu thuẫn và cũng không có biện pháp nào hàn gắn tình cảm. Lời trình bày của chị N phù hợp kết quả xác minh tại địa phương thể hiện anh Lâm Khắc V hiện đang sống chung với mẹ ruột tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, riêng chị N cùng con trai không sinh sống cùng với anh V tại địa phương từ nhiều năm trước. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được nên chị N yêu cầu ly hôn với anh V là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị Phạm Hồng N và anh Lâm Khắc V có 01 con chung tên Lâm Phạm Gia B, sinh ngày 29-10-2010. Hiện tại cháu Lâm Phạm Gia B từ khi chị Phạm Hồng N và anh Lâm Khắc V ly thân thì cháu B sống chung với chị Phạm Hồng N. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu B, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, chị N là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu B ổn định cho đến nay và theo nguyện vọng của cháu B muốn sống với chị N. Do đó, để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của con chung như được học tập, về thể chất, trí tuệ và đạo đức..v.v, nên cần giao con chung tên Lâm Phạm Gia B, sinh ngày 29-10-2010 cho chị Phạm Hồng N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận chị Phạm Hồng N không yêu cầu anh Lâm Khắc V cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, anh Lâm Khắc V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Hồng N không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Về án phí: Chị Phạm Hồng N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 9, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Hồng N và anh Lâm Khắc V.
- Về nuôi con chung: Giao 01 con chung tên Lâm Phạm Gia B, sinh ngày 29-10-2010 cho chị Phạm Hồng N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị Phạm Hồng N không yêu cầu anh Lâm Khắc V cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận chị Phạm Hồng N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Hồng N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006418 ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; chị Phạm Hồng N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Chị Phạm Hồng N và anh Lâm Khắc V vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Sau khi ly hôn, anh Lâm Khắc V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Quyên |
4
Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Phạm Hồng N ly hôn với anh Lâm Khắc V
