Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH TÂN

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20 - 9 - 2024

V/v tranh chấp “ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN - TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Kim Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Ngọc Đức
  2. Ông Trương Văn Ánh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Điền - là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bé Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 117/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024; về tranh chấp: “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2024/QĐXX-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1979. ĐKTT: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (xin vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Đặng Văn P, sinh năm 1972. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/5/2024 nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Chị và anh Đặng Văn P qua quen biết, tìm hiểu nhau và được sự chấp thuận của gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương vào năm 2004; đăng ký kết hôn ngày 18/4/2005 tại UBND xã T, huyện B (B cũ), tỉnh Vĩnh Long. Có 03 con chung tên Đặng Thị Mỹ Q, sinh ngày 14/8/2005; Đặng Thị Thanh X, sinh ngày 10/3/2007 và Đặng Nguyễn Cát T, sinh ngày 14/8/2016. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, tuy nhiên về sau vợ chồng thường hay phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm và không thể hòa hợp trong cuộc sống dẫn đến thường gây gổ với nhau. Vợ chồng đã nhiều lần cố gắng khuyên bảo lẫn nhau thay đổi để hàn gắn tình cảm nhưng đều không thành từ đó đời sống vợ chồng không có hạnh phúc. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh Đặng Văn P. Về con chung: Đặng Thị Mỹ Q, sinh ngày 14/8/2005 đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết; chị yêu cầu giải quyết cho chị được quyền nuôi Đặng Thị Thanh X, sinh ngày 10/3/2007 và Đặng Nguyễn Cát T, sinh ngày 14/8/2016, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Về quan hệ tài sản (tài sản chung, nợ chung): không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị không còn yêu cầu nào khác.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/8/2024 cháu Đặng Thị Thanh X trình bày: cha mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng sống với mẹ.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/8/2024 cháu Đặng Nguyễn Cát Tường trình B: cha mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng sống với mẹ.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

+ Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Đặng Văn P. Về con chung: Đặng Thị Mỹ Q, sinh ngày 14/8/2005 đã trưởng thành, không đặt ra xem xét giải quyết; giao Đặng Thị Thanh X, sinh ngày 10/3/2007 và Đặng Nguyễn Cát T, sinh ngày 14/8/2016 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng; anh P chưa phải cấp dưỡng nuôi con; Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Về quan hệ tài sản: không tranh chấp nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí buộc chị N phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, chị N được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0013501 ngày 18/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Tân, chị N không phải nộp thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Chị Nguyễn Thị N có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Đặng Văn P, anh P có nơi cư trú thuộc huyện B nên tranh chấp và quan hệ pháp luật thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng triệu tập bị đơn anh Đặng Văn P tham gia phiên tòa giải quyết vụ án nhưng anh P vẫn vắng mặt. Chị Nguyễn Thị N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

[1.3] Bị đơn anh Đặng Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không trình bày ý kiến, không đưa ra được chứng cứ chứng minh nên anh P đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình. Anh P phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án làm chứng cứ để xem xét giải quyết vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Đặng Văn P tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị N là có cơ sở. Bởi lẽ quá trình chung sống anh chị bất đồng quan điểm với nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không còn hạnh phúc; từ lâu đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng phải thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Hiện mỗi người đều có cuộc sống riêng không còn quan tâm đến nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị N xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh P, chị yêu cầu được ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị N được ly hôn anh P là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung:

Đặng Thị Mỹ Q, sinh ngày 14/8/2005 đã trưởng thành, chị N không yêu cầu giải quyết.

Đặng Thị Thanh X, sinh ngày 10/3/2007 và Đặng Nguyễn Cát T, sinh ngày 14/8/2016. Chị N yêu cầu được quyền nuôi Thanh X và Cát T, phù hợp nguyện vọng của con sống với mẹ. Do đó Hội đồng xét xử xem xét giao cháu X và cháu T cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Theo quy định của pháp luật thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, tuy nhiên chị N không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[2.3] Về chia tài sản: Chị Nguyễn Thị N không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[4] Xét đề nghị của Kiểm sát viên có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Đặng Văn P.

2. Về con chung:

2.1. Giao con chung Đặng Thị Thanh X, sinh ngày 10/3/2007 và Đặng Nguyễn Cát T, sinh ngày 14/8/2016 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Về cấp dưỡng nuôi con: chị Nguyễn Thị N không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Anh Đặng Văn P có nghĩa vụ tôn trọng quyền của cháu Đặng Thị Thanh X và Đặng Nguyễn Cát T được sống chung với chị Nguyễn Thị N.

Anh Đặng Văn P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình; đồng thời người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về chia tài sản: chị Nguyễn Thị N không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do chị Nguyễn Thị N nộp theo biên lai thu số 0013501 ngày 18/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Tân. Vậy chị N đã nộp đủ.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND T. Vĩnh Long;
  • - VKSND H. Bình Tân;
  • - Chi cục THADS H. Bình Tân;
  • - UBND xã Tân Bình, H. Bình Tân, T. Vĩnh Long;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phan Kim Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị N yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh Đặng Văn P. Về con chung: chị yêu cầu giải quyết cho chị được quyền nuôi Đặng Thị Thanh X, sinh ngày 10/3/2007 và Đặng Nguyễn Cát T, sinh ngày 14/8/2016, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Về quan hệ tài sản (tài sản chung, nợ chung): không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger