Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỒNG PHÚ

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 69/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16 – 9 – 2024

V/v "Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Văn Giới
  2. Bà Hoàng Thị Minh

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú: Ông Đoàn Lương Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 217/2024/TLST-HNGĐ ngày 26/6/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16/8/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 11/2024/QĐST- HPT ngày 06/9/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vòng Kim M, sinh 1996 (Có yêu cầu vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Đỗ Chí D, sinh năm 1995 (Vắng mặt không có lý do).

Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/6/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Vòng Kim M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vòng Kim M và anh Đỗ Chí D chung sống cùng nhau vào năm 2020, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có tiếng nói chung, không có sự hoà hợp về tính cách, anh D có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị M yêu cầu được ly hôn với anh Đỗ Chí D.

Về con chung: Có 01 con chung tên Đỗ Tuệ A, sinh ngày 14/11/2021. Khi ly hôn, chị M yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

Về nợ chung và tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn Đỗ Chí D: Sau khi tòa án thụ lý đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh D không có ý kiến, cũng không đến Tòa án theo giấy triệu tập của Tòa án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh D.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tham gia phiên tòa phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, thành phần các đương sự tham gia vụ án và tại phiên tòa đúng quy định.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Vòng Kim M được ly hôn với anh Đỗ Chí D; giao con chung Đỗ Tuệ A, sinh ngày 14/11/2021 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, chị M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét; Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng:

    Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Vòng Kim M khởi kiện yêu cầu được ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Đỗ Chí D, anh D hiện cư trú tại xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án Ly hôn, tranh chấp nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

    Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, chị M và anh D đều vắng mặt, tuy nhiên chị M có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; đối với anh D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục đưa vụ án ra xét xử.

  2. Về nội dung vụ án:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh D tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước vào năm 2020, do đó hôn nhân giữa chị M và anh D1 là hợp pháp theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Trong quá trình sống chung, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh D có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, cuộc sống vợ chồng không có tiếng nói chung. Nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị M yêu cầu ly hôn với anh D.

      Theo biên bản xác minh tại địa phương thể hiện: Chính quyền địa phương không nắm được nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị M và anh D do trước khi nộp đơn ly hôn tại Toà án thì chị M và anh D không yêu cầu địa phương tiến hành hoà giải. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh D để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị M và tiến hành hòa giải đoàn tụ, tuy nhiên anh D không lên Tòa án làm việc cũng không có văn bản gửi Tòa án thể hiện nguyện vọng được đoàn tụ với chị M. Hiện nay, chị M và anh D không còn chung sống cùng nhau, vợ chồng không có sự quan tâm, chia sẻ, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, không thực hiện các nghĩa vụ tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đìnhDo đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, cho chị M được ly hôn với anh D.

    2. Về con chung: Có 01 con chung Đỗ Tuệ A, sinh ngày 14/11/2021, khi ly hôn chị M yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh D không thể hiện nguyện vọng được nuôi con chung; đồng thời hiện nay cháu Tuệ A chưa đủ 36 tháng tuổi và do chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, để ổn định cuộc sống sinh hoạt hàng ngày và đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị M, giao con chung Đỗ Tuệ A cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng.
    3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị M không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
    4. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  3. Về án phí: Chị Vòng Kim M phải chịu số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
  4. Về ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vòng Kim M.

  • Về quan hệ hôn nhân: Chị Vòng Kim M được ly hôn với anh Đỗ Chí D. (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16 ngày 01/7/2020 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước).
  • Về con chung: Giao con chung Đỗ Tuệ A, sinh ngày 14/11/2021 cho chị Vòng Kim M trực tiếp nuôi dưỡng.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

  • Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Vòng Kim M không yêu cầu anh Đỗ Chí D cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  • Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Vòng Kim M phải chịu số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010387 ngày 26/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
  • Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND huyện Đồng Phú;
  • - Chi cục THA huyện Đồng Phú;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Tân Hoà;
  • - Lưu HS;
  • - Lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký, đóng dấu)

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 69/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Vòng Kim M khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Đỗ Chí D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger